Chủ Nhật , 11/10/2026 , 09:06:22 GMT+7

Siết chặt điểm cộng IELTS, tuyển sinh đại học thay đổi cách ghi nhận chứng chỉ

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Ba, 22/09/2026, 13:51:58 GMT+7

Đề xuất không sử dụng điểm cộng đối với chứng chỉ, thành tích trong tuyển sinh đại học đang đặt ra những thay đổi trong cách các trường đánh giá năng lực thí sinh. Trong đó, IELTS và các chứng chỉ quốc tế vốn được sử dụng phổ biến để quy đổi điểm, xét tuyển kết hợp hoặc tạo lợi thế trong tuyển sinh sẽ được thay đổi gắn với yêu cầu thực tế của ngành và chương trình đào tạo.

IELTS từng là một “lợi thế” trong xét tuyển đại học

Trong các mùa tuyển sinh đại học gần đây, IELTS và các chứng chỉ quốc tế từng mang lại lợi thế trong tuyển sinh đại học. Chứng chỉ ngoại ngữ có thể được sử dụng để quy đổi điểm môn tiếng Anh, kết hợp với điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông, học bạ hoặc kết quả các kỳ thi riêng; ở một số trường, chứng chỉ còn mang lại điểm cộng, qua đó tạo thêm lợi thế trong cuộc đua vào những ngành có điểm chuẩn cao. Điều này cũng tạo ra sự thay đổi trong cách học sinh lớp 10, 11, 12 chuẩn bị cho tuyển sinh. Bên cạnh việc học chương trình trung học phổ thông và chuẩn bị cho kỳ thi tốt nghiệp, nhiều em dành thời gian, chi phí để học và thi các chứng chỉ như IELTS, SAT, ACT hay A-Level với kỳ vọng mở rộng thêm cánh cửa vào đại học.

Tạp chí giáo dục
Chứng chỉ ngoại ngữ tạo ra sự thay đổi trong cách học sinh lớp 10, 11, 12 chuẩn bị cho tuyển sinh đại học

Tuy nhiên, Dự thảo Thông tư sửa đổi, bổ sung một số quy định về tuyển sinh đại học và sau đại học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến đã đặt ra một thay đổi đáng chú ý: không sử dụng điểm cộng do cơ sở đào tạo tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc các tiêu chí bổ sung. Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, việc điều chỉnh xuất phát từ yêu cầu đưa thí sinh dự tuyển vào cùng một ngành, một chương trình về cùng chuẩn đánh giá, tăng khả năng kiểm chứng và bảo đảm công bằng. Đại diện Bộ cho rằng điểm cộng có thể tạo ra sự khác biệt về cơ hội tiếp cận chứng chỉ, kỳ thi hoặc các hoạt động được cộng điểm; đồng thời, cùng một năng lực có nguy cơ được ghi nhận nhiều lần trong quá trình xét tuyển.

Sự thay đổi hiện nay cần được nhìn trong bối cảnh IELTS và các chứng chỉ quốc tế đã có vị trí ngày càng rõ trong tuyển sinh đại học. Trước đây, thí sinh sở hữu IELTS không chỉ có thể chứng minh năng lực ngoại ngữ mà còn có thể sử dụng chứng chỉ theo nhiều cách khác nhau tùy phương án tuyển sinh của từng trường. Có trường quy đổi IELTS thành điểm môn tiếng Anh; có trường sử dụng chứng chỉ trong phương thức xét tuyển kết hợp; có trường dành điểm thưởng hoặc điểm cộng cho thí sinh có chứng chỉ.

Ví dụ, trong phương án tuyển sinh đại học năm 2026, Đại học Bách khoa Hà Nội vẫn sử dụng chứng chỉ quốc tế trong phương thức xét tuyển tài năng; đồng thời cho phép thí sinh có chứng chỉ tiếng Anh quốc tế quy đổi thành điểm môn tiếng Anh ở một số tổ hợp và sử dụng trong các phương thức xét tuyển khác. Với một số chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh, IELTS còn được dùng để đáp ứng chuẩn đầu vào.

Đại học Ngoại thương cũng tiếp tục sử dụng chứng chỉ ngoại ngữ quốc tế trong phương thức xét tuyển kết hợp năm 2026. Theo phương án của trường, khi xét kết hợp, điểm chứng chỉ được quy đổi và thay thế môn tiếng Anh; thí sinh đồng thời phải đáp ứng các điều kiện về điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Nhà trường cũng tiếp tục sử dụng một số chứng chỉ quốc tế như SAT, ACT, A-Level trong tuyển sinh. Ở nhiều cơ sở đào tạo khác, chứng chỉ quốc tế cũng được đưa vào các phương thức tuyển sinh theo hướng kết hợp với kết quả học tập, điểm thi tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc các kỳ thi đánh giá năng lực, đánh giá tư duy. Điều này cho thấy chứng chỉ quốc tế đã trở thành một thành tố trong hệ thống đánh giá đầu vào của giáo dục đại học.

Từ “điểm cộng” sang năng lực được đo trong cùng thang đánh giá

Theo dự kiến mới nhất của Bộ Giáo dục và Đào tạo, từ năm 2027, thí sinh không còn được cộng tối đa 3 điểm với chứng chỉ IELTS, giải học sinh giỏi hay các thành tích, tiêu chí bổ sung do từng trường đại học quy định.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi thành điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai hoặc sử dụng chứng chỉ để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ. Điểm thay đổi là chứng chỉ không còn được xem như một khoản điểm cộng nằm ngoài thang đo chính nếu cơ chế này được áp dụng. Cách tiếp cận này đặt IELTS về đúng vai trò của một công cụ đánh giá năng lực ngoại ngữ. Nếu một ngành học yêu cầu tiếng Anh, năng lực tiếng Anh có thể được đưa trực tiếp vào tiêu chí tuyển sinh. Nếu ngành không yêu cầu năng lực ngoại ngữ như một tiêu chí riêng, việc cộng thêm điểm chỉ vì thí sinh sở hữu chứng chỉ sẽ được xem xét lại.

Tại phiên giải trình của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn trước Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội ngày 20/9, Bộ trưởng cho biết nếu ngành hoặc trường yêu cầu năng lực tiếng Anh đầu vào thì tiếng Anh cần được đưa vào tổ hợp xét tuyển như một tiêu chí chính thức; chứng chỉ tiếng Anh vẫn có thể được quy đổi thành điểm. Theo phân tích của Bộ, nếu vừa sử dụng chứng chỉ để xác định năng lực tiếng Anh, vừa cộng thêm điểm cho chính chứng chỉ đó, một năng lực có thể bị tính hai lần. Đây cũng là lý do đề xuất mới có thể làm thay đổi đáng kể cách thí sinh nhìn nhận giá trị của IELTS.

Trước đây, một thí sinh có IELTS cao có thể kỳ vọng chứng chỉ giúp mình tăng điểm xét tuyển bên cạnh kết quả học tập và điểm thi. Nếu cơ chế cộng điểm được bỏ, lợi thế ấy sẽ không còn tồn tại theo cách cũ. Thay vào đó, giá trị của chứng chỉ phụ thuộc nhiều hơn vào việc ngành học, trường đại học có sử dụng chứng chỉ để quy đổi hoặc đặt ra chuẩn đầu vào hay không. Điều này cũng đồng nghĩa với việc thí sinh cần tìm hiểu kỹ phương án tuyển sinh của từng trường thay vì mặc định rằng IELTS càng cao thì càng có nhiều điểm xét tuyển.

Chứng chỉ quốc tế không mất giá trị, nhưng cách sử dụng sẽ thay đổi

Một trong những vấn đề cần được nhìn nhận rõ là bỏ điểm cộng không đồng nghĩa với việc phủ nhận giá trị của IELTS hay các chứng chỉ quốc tế. Trên thực tế, nhiều trường đại học vẫn có nhu cầu tuyển sinh dựa trên những thang đo quốc tế. Với các chương trình đào tạo bằng tiếng Anh, chương trình liên kết quốc tế hoặc những ngành có yêu cầu cao về khả năng sử dụng ngoại ngữ, IELTS là căn cứ quan trọng để xác định khả năng đáp ứng yêu cầu học tập.

Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 quy định thí sinh vào một số chương trình giảng dạy bằng tiếng Anh phải đáp ứng yêu cầu về trình độ tiếng Anh, trong đó IELTS Academic từ 5.0 hoặc 5.5 tùy chương trình có thể được sử dụng làm một trong các căn cứ đáp ứng chuẩn đầu vào. Trường Đại học Bách khoa, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng sử dụng IELTS để quy đổi sang điểm môn tiếng Anh ở những tổ hợp có môn này và đặt chuẩn tiếng Anh đối với một số chương trình đào tạo bằng tiếng Anh.

Với các chứng chỉ như SAT, ACT, A-Level,… giá trị trong tuyển sinh cũng nằm ở khả năng cung cấp một thước đo chuẩn hóa khác cho các trường. Đại học Bách khoa Hà Nội năm 2026 dành một phương thức xét tuyển tài năng dựa trên các chứng chỉ quốc tế SAT, ACT, A-Level, AP, IB, kết hợp với yêu cầu về kết quả học tập trung học phổ thông.

Như vậy, nếu đề xuất của Bộ Giáo dục và Đào tạo được thông qua, xu hướng sử dụng nhiều phương thức về đánh giá năng lực của thí sinh vẫn có thể được duy trì, nhưng các phương thức này cần được đặt trong một cấu trúc xét tuyển minh bạch và hạn chế việc một năng lực được tính lặp lại. Việc sở hữu IELTS sẽ không còn tự động tạo ra một khoản điểm cộng trong phương thức xét tuyển mà trường tự thiết kế. Vì vậy, thí sinh cần xác định trước mục tiêu sử dụng chứng chỉ: để quy đổi môn ngoại ngữ, đáp ứng chuẩn đầu vào, tham gia một phương thức xét tuyển kết hợp hay phục vụ mục tiêu học tập lâu dài.

Điều này có thể làm giảm xu hướng chạy theo chứng chỉ chỉ nhằm tích lũy thêm điểm xét tuyển. Đồng thời, quy định mới cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các trường đại học trong việc công bố phương thức xét tuyển rõ ràng, giải thích cách sử dụng chứng chỉ và bảo đảm các tiêu chí được áp dụng thống nhất giữa các nhóm thí sinh.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cho rằng điểm cộng cho chứng chỉ có thể tạo ra khác biệt về cơ hội tiếp cận giữa các thí sinh. Chứng chỉ quốc tế thường gắn với chi phí thi, học và luyện thi; điều kiện tiếp cận cũng không giống nhau giữa các địa phương và nhóm gia đình. Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn dẫn thực tế có những ngành điểm chuẩn lên tới 28 điểm nhưng vẫn cho phép cộng điểm thưởng chênh lệch tới 1,5 điểm. Khi đó, những thí sinh đạt 26,5-28 điểm trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông vẫn có thể không trúng tuyển chỉ vì không có chứng chỉ để được cộng thêm điểm.

Tuy nhiên, việc điều chỉnh cơ chế điểm cộng cũng cần được đặt trong một tổng thể chính sách tuyển sinh. Khi chứng chỉ không còn được cộng điểm, các trường cần bảo đảm rằng việc quy đổi chứng chỉ thành điểm hoặc sử dụng chứng chỉ như một tiêu chí đầu vào phải có căn cứ rõ ràng, phù hợp với yêu cầu thực tế của ngành đào tạo.

Dự thảo vẫn đang trong quá trình lấy ý kiến. Tuy nhiên, hướng điều chỉnh được đặt ra cho thấy tuyển sinh đại học yêu cầu các phương thức phải quy về những tiêu chí đánh giá có thể kiểm chứng để bảo đảm công bằng. Trong quá trình đó, IELTS và các chứng chỉ quốc tế sẽ phụ thuộc vào năng lực mà chứng chỉ đo được và yêu cầu thực tế của chương trình đào tạo, thay vì đơn thuần là một khoản điểm cộng.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận