Thứ Năm , 28/05/2026 , 17:22:04 GMT+7

Thay đổi tư duy quản lý đại học sang kiến tạo và phát triển

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Ba, 12/05/2026, 09:46:26 GMT+7

Giáo dục đại học Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng. Sau nhiều năm mở rộng quy mô, hệ thống đại học hiện nay đang thực hiện nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc tế. Cách thức quản lý giáo dục đại học cũng cần thay đổi theo. Nếu trước đây, mô hình quản lý thiên về kiểm soát hành chính, cấp phép và giám sát thủ tục thì yêu cầu hiện nay là quản trị theo chuẩn, dữ liệu và theo hiệu quả đầu ra.

Tại buổi làm việc với Vụ Giáo dục đại học ngày 06/5, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn nhấn mạnh: tư duy quản lý hiện nay phải là “tư duy kiến tạo phát triển”, tức là cơ quan quản lý luôn đặt câu hỏi “mình giúp được gì cho các trường, cho sinh viên, cho giảng viên”, thay vì chủ yếu đặt ra quy định để kiểm soát, hạn chế.

Không thể quản lý đại học bằng tư duy hành chính cũ

Trong nhiều năm, giáo dục đại học Việt Nam vận hành trong cơ chế quản lý hành chính. Các trường chịu sự ràng buộc bởi các thủ tục trong mở ngành, tuyển sinh, thẩm định chương trình đào tạo, hoạt động tài chính.

Cách quản lý này từng phù hợp trong giai đoạn hệ thống giáo dục đại học còn nhỏ, nguồn lực hạn chế và cần bảo đảm kiểm soát chất lượng tối thiểu. Tuy nhiên, khi quy mô hệ thống tăng nhanh, nhu cầu đào tạo thay đổi liên tục theo thị trường lao động và công nghệ, mô hình quản lý quá thiên về tiền kiểm bắt đầu bộc lộ nhiều điểm nghẽn về thủ tục mở ngành mới kéo dài, trong khi các lĩnh vực công nghệ như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu lớn thay đổi từng năm. Nếu quy trình quản lý chậm hơn tốc độ phát triển công nghệ, chương trình đào tạo dễ rơi vào tình trạng lạc hậu ngay khi vừa được phê duyệt.

Chính vì vậy, yêu cầu chuyển từ “kiểm soát hành chính” sang “quản trị theo chuẩn và dữ liệu” là cần thiết. Công tác quản lý cần tập trung vào những nội dung cốt lõi như chuẩn chương trình đào tạo, chuẩn cơ sở giáo dục đại học và hệ thống dữ liệu về tuyển sinh, người học. Thay vì can thiệp sâu vào hoạt động tác nghiệp của từng trường, cơ quan quản lý sẽ tập trung xây dựng, thiết lập chuẩn chất lượng và hệ thống giám sát minh bạch. Trường đại học được trao quyền chủ động nhiều hơn, nhưng đồng thời phải chịu trách nhiệm giải trình lớn hơn về chất lượng đào tạo, hiệu quả nghiên cứu và khả năng sử dụng nguồn lực.

Tạp chí giáo dục
Cơ quan quản lý cần đặt câu hỏi “mình giúp được gì cho các trường, cho sinh viên, cho giảng viên”, thay vì chủ yếu đặt ra quy định để kiểm soát, hạn chế (Nguồn: website Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội)

“Tư duy kiến tạo” và câu chuyện tự chủ đại học

Khái niệm “tư duy kiến tạo phát triển” thực chất gắn chặt với tiến trình tự chủ đại học đã được triển khai nhiều năm qua. Tự chủ không chỉ là giao quyền cho các trường tự quyết tài chính hay tuyển sinh, mà sâu xa hơn là thay đổi triết lý quản lý nhà nước đối với giáo dục đại học.

Trong mô hình cũ, cơ quan quản lý thường đóng vai trò “người phê duyệt”. Trong mô hình mới, cơ quan quản lý phải trở thành “người kiến tạo điều kiện phát triển”.

Một trong những nền tảng quan trọng cho việc thay đổi tư duy quản lý giáo dục đại học là Quốc hội ban hành Luật Giáo dục đại học năm 2018. Luật nhấn mạnh mạnh mẽ quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học, chuyển dần vai trò của Nhà nước từ quản lý trực tiếp sang quản lý bằng chuẩn mực, cơ chế và giám sát chất lượng.

Luật quy định rõ các trường đại học được tự chủ trong học thuật, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính; đồng thời phải thực hiện trách nhiệm giải trình với người học, xã hội và cơ quan quản lý nhà nước. Khái niệm “trách nhiệm giải trình” cũng lần đầu được luật hóa rõ ràng, cho thấy tư duy quản lý không còn dừng ở tiền kiểm mà chuyển sang hậu kiểm và minh bạch hóa hoạt động đại học.

Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2019/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Giáo dục đại học sửa đổi. Nghị định này quy định chi tiết về hội đồng trường, quyền tự chủ học thuật, tài chính, mở ngành đào tạo, kiểm định chất lượng và công khai thông tin của cơ sở giáo dục đại học. Đáng chú ý, Nghị định yêu cầu các trường phải công khai nhiều dữ liệu quan trọng như chuẩn đầu ra, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng, kết quả kiểm định và tình hình hoạt động đào tạo trên trang thông tin điện tử. Điều này phản ánh xu hướng chuyển từ mô hình quản lý hành chính sang quản trị dựa trên dữ liệu và minh bạch thông tin.

Trong những năm gần đây, định hướng này tiếp tục được thúc đẩy thông qua nhiều chủ trương lớn như Luật Giáo dục đại học 2025; quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học; phát triển đại học số; thúc đẩy kiểm định chất lượng và phân tầng đại học. Đây đều là các chính sách cho thấy Nhà nước đang từng bước chuyển vai trò từ “điều hành chi tiết” sang “kiến tạo hệ sinh thái phát triển”, tạo điều kiện để các trường cạnh tranh bằng chất lượng, năng lực nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh đại học ngày càng gắn với đổi mới sáng tạo và cạnh tranh quốc tế. Một trường đại học muốn phát triển mạnh cần có khả năng linh hoạt trong xây dựng chương trình, thu hút giảng viên, hợp tác doanh nghiệp, mở rộng nghiên cứu và quốc tế hóa. Nếu mọi quyết định đều phụ thuộc vào quy trình hành chính kéo dài, cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ.

Thực tế cho thấy, những cơ sở giáo dục đại học có mức độ tự chủ cao thường chủ động trong mở ngành mới, hợp tác quốc tế và thu hút nguồn lực xã hội. Tuy nhiên, tự chủ đại học cũng đặt ra yêu cầu mới về năng lực quản trị. Khi được trao quyền lớn hơn, các trường không thể tiếp tục vận hành theo tư duy bao cấp hay quản lý hành chính nội bộ cứng nhắc. Hội đồng trường, cơ chế kiểm định, hệ thống dữ liệu và trách nhiệm giải trình sẽ trở thành yếu tố then chốt.

Quản trị theo tiêu chuẩn và dữ liệu

Một điểm đáng chú ý trong định hướng mới là yêu cầu tiếp tục siết chặt kỷ cương, kỷ luật công vụ; bảo đảm “6 rõ”, tăng cường giám sát, kiểm đếm tiến độ và có chế tài rõ ràng trong thực hiện nhiệm vụ. Bên cạnh đó, cần đổi mới mạnh mẽ tư duy và phương pháp làm việc; chuyển từ tư duy quản lý từ kiểm soát hành chính sang quản trị theo chuẩn và dữ liệu. Trong nhiều lĩnh vực, dữ liệu đang trở thành nền tảng của quản trị hiện đại, giáo dục đại học cũng không ngoại lệ. Nếu có hệ thống dữ liệu đầy đủ về tuyển sinh, việc làm của sinh viên, năng lực nghiên cứu, kiểm định chất lượng hay nhu cầu lao động, cơ quan quản lý có thể đưa ra chính sách chính xác hơn thay vì điều hành theo kinh nghiệm hoặc phản ứng tình huống.

Quản trị bằng dữ liệu còn giúp tăng tính minh bạch. Khi thông tin về chất lượng đào tạo, tỷ lệ sinh viên có việc làm, chuẩn đầu ra hay kiểm định được công khai, xã hội sẽ có thêm cơ sở để đánh giá chất lượng các trường. Điều này tạo áp lực cạnh tranh lành mạnh, buộc các trường phải nâng cao chất lượng thay vì chỉ tập trung vào quy mô tuyển sinh.

Trong bối cảnh chuyển đổi số giáo dục đang được thúc đẩy mạnh mẽ, việc xây dựng hệ thống dữ liệu giáo dục đại học thống nhất cũng là nền tảng để tiến tới quản trị thông minh, liên thông và dự báo dài hạn.

Tuy nhiên, việc “kiến tạo phát triển” do đó không đồng nghĩa với buông lỏng quản lý. Ngược lại, yêu cầu này đòi hỏi năng lực quản trị nhà nước cao hơn: xây dựng chuẩn mực rõ ràng, hệ thống kiểm định độc lập, cơ chế dữ liệu minh bạch và chính sách khuyến khích đúng trọng tâm. Đây sẽ là giai đoạn đòi hỏi nhiều quyết định khó khăn, từ quy hoạch mạng lưới trường lớp đến phân tầng đại học và tái cấu trúc ngành đào tạo.

Thay đổi tư duy quản lý giáo dục đại học phản ánh xu hướng chuyển đổi trong quản trị quốc gia hiện đại: Nhà nước không làm thay thị trường hay các cơ sở giáo dục, mà tạo điều kiện để các chủ thể phát triển tốt hơn. Trong giáo dục đại học, điều này đặc biệt quan trọng bởi đại học không chỉ là nơi đào tạo nhân lực mà còn là trung tâm nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và sản sinh tri thức mới. Một nền đại học năng động khó có thể hình thành nếu môi trường quản lý thiếu linh hoạt.

Khi giáo dục đại học được nhìn nhận như động lực phát triển quốc gia, quản lý đại học cũng không thể chỉ dừng ở việc duy trì trật tự hành chính. Điều quan trọng hơn là tạo ra một hệ sinh thái đủ cởi mở để các trường phát huy sáng tạo, cạnh tranh lành mạnh và đóng góp thực chất cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên kinh tế tri thức.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận