Năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đã trình Quốc hội thông qua Luật Nhà giáo, đây là luật chuyên ngành đầu tiên quy định đầy đủ về vị trí pháp lý, quyền, nghĩa vụ và các chính sách dành cho đội ngũ nhà giáo. Theo đó, Luật đã chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo thông qua hệ thống chức danh gắn với chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, phù hợp với từng cấp học và trình độ đào tạo; làm rõ quyền và nghĩa vụ của nhà giáo theo hướng tăng quyền chủ động, sáng tạo và tăng tính bảo vệ nhà giáo trong hoạt động nghề nghiệp; quy định việc tuyển dụng nhà giáo bảo đảm phải có thực hành sư phạm nhằm lựa chọn người có đủ năng lực gắn với chuẩn nghề nghiệp nhà giáo, đáp ứng hoạt động nghề nghiệp nhà giáo theo từng cấp học, trình độ đào tạo; chính sách tiền lương, đãi ngộ, hỗ trợ nhà giáo được quan tâm, tạo điều kiện ở mức tốt nhất trong bối cảnh hiện nay; giao quyền chủ động cho ngành giáo dục trong tuyển dụng, sử dụng nhà giáo.
Đồng thời, Bộ GDĐT đã ban hành theo thẩm quyền các thông tư quy định Chương trình bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp tư vấn học sinh; quy định chế độ làm việc giáo viên mầm non, phổ thông; quy định về phân quyền, phân cấp và phân định thẩm quyền thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương hai cấp đối với lĩnh vực nhà giáo và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục phục vụ triển khai thực hiện chính quyền địa phương hai cấp,…Các địa phương đã triển khai công tác bồi dưỡng thường xuyên giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông theo đúng quy định. Kết quả, tính đến hết năm học 2024 - 2025, tỉ lệ đạt chuẩn được đào tạo theo Luật Giáo dục 2019 của giáo viên và cán bộ quản lý cơ sở giáo dục mầm non là 90,5%, cấp tiểu học là 91,9%, cấp THCS là 94,8%, THPT 99,9% (so với năm học 2023-2024, tỉ lệ giáo viên đạt chuẩn theo Luật Giáo dục 2019 ở cấp mầm non tăng thêm 1,2%, cấp tiểu học tăng thêm 2,0%, cấp THCS tăng thêm 1,0%). Năng lực sư phạm của phần lớn nhà giáo được nâng lên, cơ bản đáp ứng được yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp dạy học triển khai thực hiện Chương trình giáo dục mầm non, Chương trình giáo dục phổ thông 2018.
Trình độ kỹ năng nghề, trình độ ngoại ngữ của nhà giáo được kiểm tra đánh giá, kiểm tra và đạt chuẩn kỹ năng nghề tăng rõ rệt qua 10 năm. Số lượng chương trình, tài liệu bồi dưỡng kỹ năng nghề để dạy thực hành cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tăng. Công tác chuẩn hóa và phát triển đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp được tăng cường, đặc biệt đối với các ngành, nghề trọng điểm cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế.
Đội ngũ giảng viên đại học năm 2025 có 125.642 người; trong đó giảng viên cơ hữu có 87.444 người. Tỉ lệ giảng viên đại học cơ hữu có trình độ tiến sĩ đạt 36%; tỉ lệ giảng viên có học hàm phó giáo sư và giáo sư lần lượt là 6,4% và 0,8%.
Các địa phương, cơ sở giáo dục đã cơ bản thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, kịp thời các chế độ, chính sách đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục (như: chi trả tiền lương và các chế độ phụ cấp, công tác bổ nhiệm chức danh nghề nghiệp, thăng hạng chức danh nghề nghiệp, công tác tôn vinh, khen thưởng nhà giáo… ), tạo động lực quan trọng thúc đẩy để đội ngũ nhà giáo không ngừng đổi mới, sáng tạo, vươn lên hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, nhiều địa phương, cơ sở giáo dục có các chính sách riêng để thu hút, hỗ trợ nhà giáo.
Để bảo đảm biên chế giáo viên mầm non, phổ thông trong giai đoạn 2026 - 2030, hiện nay, Bộ GDĐT đã xây dựng báo cáo Thường trực Ban Bí thư về nhu cầu biên chế giáo viên đến năm 2030 trên cơ sở báo cáo kế hoạch phát triển trường, lớp và nhu cầu biên chế giáo viên đến năm 2030 của các địa phương. Đồng thời, phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng báo cáo rà soát và đề xuất biên chế giáo viên giai đoạn 2026 - 2030 để báo cáo Trung ương xem xét, phê duyệt.