Thứ Năm , 28/05/2026 , 16:16:48 GMT+7

Liêm chính học thuật trong giáo dục đại học: Xây dựng chuẩn mực khoa học từ phẩm chất cá nhân và môi trường nhà trường

Model?.data?.author?.Name
Vân An

Biên tập viên

Thứ Tư, 20/05/2026, 21:29:33 GMT+7

Trong bối cảnh giáo dục đại học chịu sức ép ngày càng lớn từ yêu cầu công bố, cạnh tranh học thuật, tự chủ đại học và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo tạo sinh, liêm chính học thuật trở thành điều kiện nền tảng để bảo vệ chất lượng tri thức và uy tín nhà trường. Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là phát hiện, xử lí các hành vi vi phạm chuẩn mực, mà quan trọng hơn là xây dựng môi trường học thuật giúp giảng viên và người học có đủ năng lực, điều kiện và động lực để làm khoa học một cách trung thực, minh bạch và có trách nhiệm. Các tiếp cận quốc tế gần đây cho thấy liêm chính học thuật cần được nhìn nhận như kết quả của sự phối hợp giữa phẩm chất cá nhân, năng lực nghiên cứu, nguồn lực học thuật, văn hóa nhà trường, cơ chế quản lí và hoạt động bồi dưỡng.

Liêm chính học thuật là nền tảng của chất lượng và uy tín đại học

Liêm chính học thuật là điều kiện căn bản để bảo vệ giá trị của tri thức khoa học. Một bài báo, luận án, đề tài hay sản phẩm học thuật chỉ có thể đóng góp cho cộng đồng khi được tạo lập trên cơ sở trung thực, minh bạch, thận trọng về phương pháp và có trách nhiệm với dữ liệu, tác giả, người học cũng như xã hội. Trong giáo dục đại học, liêm chính không chỉ là yêu cầu đạo đức của từng cá nhân, mà còn là thước đo văn hóa khoa học, năng lực quản trị và uy tín học thuật của nhà trường.

Cách hiểu này tương đồng với Tuyên bố Singapore về liêm chính nghiên cứu, trong đó bốn nguyên tắc nền tảng được nhấn mạnh là trung thực trong mọi phương diện nghiên cứu, trách nhiệm trong quá trình thực hiện, sự công bằng và chuyên nghiệp trong quan hệ học thuật, cùng trách nhiệm quản lí tốt hoạt động nghiên cứu vì lợi ích chung (Resnik, 2011; World Conference on Research Integrity, 2010). Các nguyên tắc này cho thấy liêm chính không thể bị thu hẹp thành việc tránh vi phạm, mà cần được hiểu như một chuẩn mực bao trùm toàn bộ quá trình tạo lập, công bố và sử dụng tri thức.

Khi chuẩn mực học thuật bị xem nhẹ, hệ quả không dừng lại ở một công bố thiếu tin cậy hay một trường hợp vi phạm cụ thể. Điều bị tổn hại sâu hơn là niềm tin vào môi trường đại học, vào chất lượng đào tạo sau đại học, vào đội ngũ giảng viên và vào khả năng tự điều chỉnh của cộng đồng khoa học. Vì vậy, liêm chính học thuật cần được nhìn nhận như một thành tố của chất lượng giáo dục đại học, gắn với trách nhiệm giải trình, uy tín khoa học và năng lực hội nhập quốc tế.

Bộ Quy tắc ứng xử châu Âu về liêm chính nghiên cứu cũng nhấn mạnh vai trò của văn hóa nghiên cứu trong việc nuôi dưỡng liêm chính và thực hành khoa học tốt; bản cập nhật năm 2023 đặt trách nhiệm lớn hơn cho các bên liên quan trong việc quan sát, thúc đẩy và thực hiện các chuẩn mực nghiên cứu (All European Academies, 2023). Điều này đặc biệt quan trọng với các cơ sở giáo dục đại học, bởi những hành vi học thuật đúng chuẩn không chỉ được bảo đảm bằng văn bản quy định, mà còn bằng các giá trị được chia sẻ, cách nhà trường đánh giá thành tích và cách cộng đồng học thuật phản ứng trước những tình huống nhạy cảm.

Nhiều tổng quan quốc tế cho thấy các rủi ro đối với liêm chính khoa học không chỉ bắt nguồn từ lựa chọn đạo đức của cá nhân, mà còn liên quan đến môi trường tổ chức, cơ chế đánh giá, áp lực công bố và hệ thống hỗ trợ nghiên cứu. Roje và cộng sự (2023) cho rằng việc thúc đẩy và thực thi liêm chính chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ở cấp độ cá nhân, tổ chức nghiên cứu và hệ thống khoa học rộng hơn. Trong bối cảnh công nghệ số, Bittle và El-Gayar (2025) đặt trí tuệ nhân tạo tạo sinh và liêm chính học thuật trong giáo dục đại học như một hướng khảo cứu quan trọng, nhất là khi công nghệ làm thay đổi cách người học và giảng viên tạo lập, trình bày và công bố tri thức.

Tạp chí giáo dục
Liêm chính học thuật không chỉ được bảo vệ bằng quy chế, mà bằng một môi trường đại học nơi trung thực khoa học được hỗ trợ bằng năng lực, được nuôi dưỡng bằng văn hóa và được bảo đảm bằng quản trị có trách nhiệm.

Từ xử lí vi phạm đến xây dựng môi trường học thuật có trách nhiệm

Trong nhiều năm, các cơ sở giáo dục đại học thường tiếp cận liêm chính học thuật từ phía xử lí vi phạm: phát hiện đạo văn, kiểm tra trùng lặp, xác minh dữ liệu, xem xét trách nhiệm tác giả hoặc kỷ luật những trường hợp không tuân thủ quy định. Cách làm này cần thiết, nhưng chưa đủ. Nếu chỉ chú trọng phần “hậu kiểm”, nhà trường dễ rơi vào thế bị động, chỉ can thiệp khi hệ quả đã xuất hiện.

Một cách tiếp cận bền vững hơn là chuyển trọng tâm từ xử lí sang phòng ngừa. Điều này đòi hỏi nhà trường phải quan tâm đến toàn bộ quá trình tạo lập tri thức: từ hình thành đề tài, thiết kế phương pháp, thu thập dữ liệu, phân tích kết quả, viết bản thảo, xác định tác giả, lựa chọn nơi công bố đến phản hồi sau công bố. Mỗi khâu đều có thể chứa đựng rủi ro liêm chính nếu người thực hiện thiếu hiểu biết, thiếu nguồn lực, thiếu cố vấn học thuật hoặc chịu áp lực thành tích vượt quá điều kiện thực hiện.

Từ góc nhìn thực nghiệm, Chen, Tu và Esangbedo (2026) phân tích dữ liệu khảo sát 109 giảng viên đại học và xem xét sáu điều kiện có liên quan đến hành vi học thuật, gồm định hướng giá trị, nguồn lực học thuật, năng lực nghiên cứu, bầu không khí học thuật, hệ thống quản lí, giáo dục và bồi dưỡng về liêm chính. Kết quả cho thấy không có yếu tố riêng lẻ nào có thể tự mình bảo đảm liêm chính học thuật; thay vào đó, hành vi đúng chuẩn được hình thành nhờ sự phối hợp giữa các điều kiện cá nhân và tổ chức (Chen et al., 2026).

Nhận định này giúp tránh tư duy “một giải pháp cho mọi vấn đề”. Một trường đại học có đội ngũ giảng viên trẻ, thiếu kinh nghiệm công bố quốc tế sẽ cần chiến lược khác với một cơ sở có truyền thống khoa học mạnh nhưng chịu sức ép lớn về sản lượng công bố. Một đơn vị có văn hóa học thuật lành mạnh nhưng quy trình quản lí chưa hoàn thiện cần hướng can thiệp khác với nơi đã có quy định đầy đủ nhưng văn hóa thực thi còn yếu. Vì vậy, quản trị liêm chính học thuật cần dựa trên bối cảnh cụ thể của từng nhà trường.

Cách tiếp cận này cũng phù hợp với tinh thần của các chuẩn mực quốc tế về đạo đức xuất bản. Ủy ban Đạo đức xuất bản nhiều lần nhấn mạnh trách nhiệm của tác giả, biên tập viên, nhà xuất bản và các bên liên quan trong việc bảo vệ tính minh bạch, trách nhiệm giải trình và chuẩn mực công bố. Trong thời đại công nghệ tạo sinh, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết vì các hình thức hỗ trợ học thuật bằng công cụ số có thể tạo ra vùng mờ giữa hỗ trợ hợp pháp và can thiệp không phù hợp vào sản phẩm khoa học (Committee on Publication Ethics, 2023).

Giá trị nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và bầu không khí học thuật

Các phân tích về liêm chính học thuật cho thấy hành vi của giảng viên không thể được giải thích chỉ bằng phẩm chất cá nhân. Theo lí thuyết hệ thống mở được Chen và cộng sự vận dụng, giảng viên hoạt động trong một môi trường đại học chịu ảnh hưởng của chính sách, nguồn lực, chuẩn mực tổ chức và áp lực nghề nghiệp. Vì vậy, liêm chính học thuật được hình thành từ sự tương tác giữa con người và môi trường, chứ không phải từ một phẩm chất riêng lẻ (Chen et al., 2026).

Ở phương diện cá nhân, định hướng giá trị là nền tảng quan trọng. Một giảng viên coi trọng trung thực khoa học thường có khả năng giữ gìn hành vi đúng chuẩn ngay cả khi đối diện áp lực cạnh tranh. Tuy nhiên, thiện chí đạo đức không đủ nếu người giảng viên thiếu năng lực phương pháp, thiếu hiểu biết về chuẩn mực công bố, thiếu nguồn lực dữ liệu hoặc không có điều kiện thực hiện công việc khoa học một cách cẩn trọng. Nói cách khác, liêm chính học thuật cần cả phẩm chất nghề nghiệp và năng lực thực hành khoa học.

Ở phương diện tổ chức, bầu không khí học thuật, hệ thống quản lí và giáo dục liêm chính có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi của giảng viên. Bầu không khí học thuật phản ánh các giá trị, chuẩn mực và kỳ vọng được chia sẻ trong nhà trường. Khi môi trường làm việc đề cao minh bạch, hợp tác và trách nhiệm, hành vi học thuật đúng chuẩn có nhiều cơ hội được củng cố. Ngược lại, nếu thành tích được đề cao hơn chất lượng, nếu hành vi không phù hợp với chuẩn mực học thuật không được xử lí nhất quán, văn hóa tổ chức có thể làm suy yếu nền tảng đạo đức cá nhân.

Lí thuyết học tập xã hội giúp giải thích vì sao bầu không khí học thuật có vai trò lớn. Giảng viên không chỉ học chuẩn mực từ văn bản quy định, mà còn từ cách đồng nghiệp, lãnh đạo học thuật và nhà trường ứng xử trong các tình huống cụ thể. Nếu người làm đúng được ghi nhận, người vi phạm bị xử lí công bằng, chuẩn mực về tác giả, dữ liệu, công bố và phản biện được thực thi nhất quán, văn hóa học thuật sẽ trở thành sức điều chỉnh tích cực. Ngược lại, nếu hành vi không chuẩn mực vẫn đem lại lợi ích nghề nghiệp, thông điệp mà tổ chức phát ra sẽ làm giảm hiệu lực của những quy định chính thức.

Ở góc độ thể chế, giảng viên thường điều chỉnh hành vi để đáp ứng những giá trị mà nhà trường thừa nhận trong đánh giá, thăng tiến và phân bổ nguồn lực. Khi hệ thống đánh giá quá thiên về số lượng công bố, hệ số tạp chí hoặc chỉ tiêu ngắn hạn nhưng chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng phương pháp, độ tin cậy của dữ liệu và đóng góp thực chất, các tiêu chí ấy có thể tạo áp lực không lành mạnh. Vì vậy, thiết kế cơ chế đánh giá không chỉ là vấn đề quản trị nhân sự, mà còn là vấn đề đạo đức học thuật.

Những điều kiện nuôi dưỡng liêm chính trong nhà trường đại học

Một số nguồn học thuật quốc tế đều cho thấy liêm chính học thuật cần được nuôi dưỡng bằng nhiều điều kiện đồng thời. Tuyên bố Singapore nhấn mạnh trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm nghề nghiệp của nhà nghiên cứu; Bộ Quy tắc ứng xử châu Âu nhấn mạnh vai trò của văn hóa nghiên cứu; các tổng quan gần đây về liêm chính khoa học lại cho thấy sự cần thiết của cơ chế tổ chức và hệ thống hỗ trợ (Resnik, 2011; All European Academies, 2023; Roje et al., 2023).

Từ dữ liệu thực nghiệm, Chen và cộng sự cho rằng hành vi học thuật chuẩn mực có thể được hình thành theo nhiều con đường khác nhau, tùy thuộc vào sự phối hợp giữa phẩm chất cá nhân, năng lực nghiên cứu, nguồn lực hỗ trợ và môi trường tổ chức. Một con đường quan trọng bắt đầu từ sự kết hợp giữa định hướng giá trị của giảng viên và bầu không khí học thuật tích cực. Trong trường hợp này, người giảng viên có nền tảng đạo đức nghề nghiệp, đồng thời được đặt trong một môi trường mà chuẩn mực học thuật được thừa nhận và thực hành rộng rãi (Chen et al., 2026).

Một con đường khác nhấn mạnh vai trò của giáo dục và bồi dưỡng. Khi giảng viên có định hướng giá trị phù hợp và năng lực nghiên cứu nhất định, các chương trình bồi dưỡng có thể giúp củng cố nhận thức, định hướng hành vi và bù đắp cho sự chưa hoàn thiện của hệ thống quản lí. Tuy nhiên, bồi dưỡng không nên được hiểu là phổ biến quy định một chiều. Đó phải là quá trình giúp giảng viên nhận diện các tình huống đạo đức trong công bố, quản lí dữ liệu, xác định đóng góp tác giả, sử dụng công cụ số có trách nhiệm và xử lí áp lực nghề nghiệp theo cách phù hợp.

Môi trường tổ chức cũng có thể hỗ trợ những giảng viên còn hạn chế về năng lực phương pháp hoặc kinh nghiệm nghiên cứu. Một cá nhân có ý thức đúng vẫn có thể gặp rủi ro nếu thiếu hướng dẫn về thiết kế nghiên cứu, phân tích dữ liệu, chuẩn mực trích dẫn, quy trình công bố hoặc trách nhiệm tác giả. Trong trường hợp đó, bầu không khí học thuật lành mạnh, hệ thống quản lí rõ ràng và hoạt động bồi dưỡng thường xuyên có thể tạo thành mạng lưới hỗ trợ, giúp giảm nguy cơ vi phạm do thiếu kinh nghiệm hoặc do áp lực vượt quá năng lực thực hiện (Chen et al., 2026).

Ở mức phát triển cao hơn, liêm chính học thuật được bảo vệ bằng sự phối hợp toàn diện giữa cá nhân và tổ chức. Khi định hướng giá trị, nguồn lực học thuật, bầu không khí học thuật, hệ thống quản lí và giáo dục liêm chính cùng vận hành theo hướng bổ trợ, nhà trường có thể tạo nên một môi trường trong đó làm khoa học đúng chuẩn không chỉ là yêu cầu đạo đức, mà còn là lựa chọn được hỗ trợ, được ghi nhận và được bảo vệ.

Ở chiều ngược lại, một số nhóm nguy cơ có thể làm suy yếu liêm chính học thuật khi nhiều điểm yếu cùng xuất hiện: định hướng giá trị nghề nghiệp thiếu vững chắc, năng lực nghiên cứu còn hạn chế, nguồn lực học thuật không đáp ứng yêu cầu, môi trường học thuật chưa lành mạnh, hệ thống quản lí thiếu hiệu lực hoặc hoạt động bồi dưỡng còn hình thức. Điều này cho thấy vi phạm chuẩn mực học thuật không chỉ là vấn đề đạo đức cá nhân, mà còn phản ánh những bất cập trong cách nhà trường tổ chức, hỗ trợ và đánh giá hoạt động khoa học (Chen et al., 2026).

Tạp chí giáo dục
Trong thời đại trí tuệ nhân tạo tạo sinh, thách thức lớn nhất của đại học không phải là công nghệ có thể làm thay con người đến đâu, mà là con người còn đủ minh bạch, năng lực kiểm chứng và trách nhiệm học thuật đến mức nào trước mỗi sản phẩm tri thức.

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh và yêu cầu minh bạch học thuật

Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo tạo sinh khiến vấn đề liêm chính học thuật trở nên phức tạp hơn. Những công cụ này có thể hỗ trợ giảng viên và người học trong tìm kiếm tài liệu, gợi ý cấu trúc, rà soát ngôn ngữ, dịch thuật, tóm tắt và xử lí một số thao tác học thuật. Tuy nhiên, chính khả năng hỗ trợ mạnh mẽ đó cũng đặt ra câu hỏi về mức độ tham gia của công cụ số, quyền tác giả, trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ kiểm chứng của người sử dụng.

Các công cụ trí tuệ nhân tạo không thể được liệt kê là tác giả của bài báo, bởi quyền tác giả gắn với trách nhiệm, sự đồng thuận và khả năng chịu trách nhiệm về nội dung công bố; đồng thời, người sử dụng công cụ trí tuệ nhân tạo trong quá trình chuẩn bị bản thảo cần minh bạch về việc sử dụng đó (Committee on Publication Ethics, 2023). Đây là điểm có ý nghĩa đặc biệt với các trường đại học, tạp chí khoa học và cơ sở đào tạo sau đại học, bởi sản phẩm học thuật hiện nay có thể chịu ảnh hưởng từ nhiều công cụ hỗ trợ mà các cơ chế kiểm tra truyền thống chưa chắc nhận diện được.

Một bản thảo có thể không trùng lặp theo nghĩa truyền thống nhưng vẫn thiếu minh bạch nếu người viết không khai báo việc sử dụng công cụ tạo sinh ở mức đáng kể. Một luận án có thể trích dẫn đầy đủ nhưng vẫn có vấn đề nếu dữ liệu, phân tích hoặc lập luận được tạo ra mà tác giả không đủ năng lực kiểm chứng. Vì vậy, quản trị liêm chính trong thời đại công nghệ không thể chỉ dựa vào phần mềm kiểm tra trùng lặp, mà cần có hướng dẫn rõ ràng về phạm vi sử dụng công cụ số, trách nhiệm khai báo, giới hạn chấp nhận được và nghĩa vụ của tác giả đối với toàn bộ sản phẩm học thuật.

Trong bối cảnh Việt Nam, vấn đề này càng đáng chú ý khi các cơ sở giáo dục đại học đang thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng công bố quốc tế và đổi mới phương thức dạy học. Công nghệ có thể hỗ trợ nâng cao chất lượng học thuật, nhưng chỉ phát huy giá trị khi được đặt trong khuôn khổ minh bạch, trách nhiệm và năng lực kiểm chứng của con người. Vì vậy, giáo dục liêm chính trong thời đại trí tuệ nhân tạo tạo sinh không nên chỉ tập trung vào việc “được dùng hay không được dùng”, mà cần làm rõ dùng ở mức độ nào, khai báo ra sao, ai chịu trách nhiệm và sản phẩm cuối cùng được kiểm chứng bằng cách nào.

Hàm ý chính sách đối với giáo dục đại học Việt Nam

Quản trị liêm chính học thuật đối với giáo dục đại học Việt Nam cần được đặt trong bối cảnh đổi mới giáo dục, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 1705/QĐ-TTg là căn cứ quan trọng để các cơ sở giáo dục đại học nâng cao chất lượng, hiện đại hóa quản trị và phát triển đội ngũ (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, trong đó thể chế, nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là các nội dung trọng tâm (Bộ Chính trị, 2024). Nghị quyết số 71-NQ/TW tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ giáo dục và đào tạo trong giai đoạn mới (Bộ Chính trị, 2025).

Trên nền tảng đó, các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam cần xem liêm chính học thuật như một năng lực tổ chức. Năng lực này không chỉ thể hiện ở phẩm chất của từng giảng viên, mà còn ở quy chế, văn hóa, quy trình, hệ thống dữ liệu, cơ chế đánh giá, hoạt động bồi dưỡng và cách nhà trường bảo vệ những hành vi học thuật đúng chuẩn. Trước hết, mỗi trường cần xây dựng bộ quy tắc liêm chính học thuật có khả năng thực thi, bao quát các vấn đề về trích dẫn, quyền tác giả, quản lí dữ liệu, công bố, phản biện, sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh, xung đột lợi ích và trách nhiệm của người hướng dẫn trong đào tạo sau đại học.

Các trường cần chuyển từ phát hiện sau vi phạm sang phòng ngừa trong toàn bộ quy trình học thuật. Việc bảo đảm liêm chính nên bắt đầu ngay từ khâu xây dựng đề cương, phê duyệt đề tài, thu thập và lưu trữ dữ liệu, phân tích kết quả, viết bản thảo, xác định tác giả, nộp công bố và xử lí phản biện. Với đào tạo tiến sĩ, quy chế hiện hành là căn cứ để các cơ sở đào tạo cụ thể hóa yêu cầu về chất lượng, trách nhiệm học thuật và liêm chính trong từng khâu tuyển sinh, tổ chức đào tạo và cấp bằng tiến sĩ (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).

Hoạt động bồi dưỡng liêm chính cần được thiết kế theo nhóm đối tượng. Giảng viên trẻ cần được hỗ trợ về phương pháp nghiên cứu, chuẩn mực công bố, quản lí dữ liệu và hợp tác tác giả. Nghiên cứu sinh cần được hướng dẫn sâu về đạo đức trong thiết kế đề tài, xử lí dữ liệu, sử dụng tài liệu, công bố liên quan đến luận án và trách nhiệm đối với sản phẩm khoa học của mình. Cán bộ quản lí khoa học cần được bồi dưỡng về quy trình xử lí xung đột lợi ích, bảo mật thông tin, bảo vệ người phản ánh vi phạm và đánh giá khách quan. Biên tập viên tạp chí khoa học cần được cập nhật về đạo đức xuất bản, phản biện kín, phát hiện trùng lặp, xử lí khiếu nại học thuật và chính sách khai báo sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh.

Hệ thống đánh giá giảng viên cần giảm phụ thuộc vào những tiêu chí định lượng đơn giản. Số lượng bài báo, điểm công trình hoặc chỉ số tạp chí có thể là thông tin tham khảo, nhưng không nên trở thành thước đo gần như duy nhất của năng lực khoa học. Một hệ thống đánh giá cân bằng cần quan tâm đến chất lượng đóng góp, tính phù hợp của phương pháp, độ tin cậy của dữ liệu, đóng góp cho đào tạo, hợp tác học thuật, tác động đối với chính sách và thực tiễn giáo dục. Cách đánh giá này phù hợp hơn với tinh thần phát triển chất lượng, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm giải trình được đặt ra trong các định hướng chính sách hiện nay.

Các cơ sở giáo dục đại học cũng cần bảo đảm nguồn lực tối thiểu để giảng viên có điều kiện làm khoa học đúng chuẩn. Nguồn lực không chỉ là kinh phí, mà còn bao gồm cơ sở dữ liệu học thuật, phần mềm hỗ trợ kiểm tra trùng lặp, tư vấn phương pháp, hỗ trợ thống kê, cố vấn công bố, nhóm nghiên cứu chuyên môn và thời gian dành cho hoạt động khoa học. Nếu yêu cầu công bố tăng lên nhưng điều kiện hỗ trợ không thay đổi tương ứng, áp lực thành tích có thể làm suy giảm chất lượng và làm gia tăng rủi ro liêm chính.

Cùng với đó, các trường cần ban hành hướng dẫn rõ ràng về sử dụng trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong học tập, giảng dạy và công bố khoa học. Hướng dẫn này nên phân biệt các mức độ sử dụng, như hỗ trợ ngôn ngữ, gợi ý cấu trúc, tóm tắt tài liệu, xử lí dữ liệu, tạo hình ảnh, viết bản thảo hoặc hỗ trợ phản biện. Với mỗi mức độ, cần quy định trách nhiệm khai báo, giới hạn sử dụng và nghĩa vụ kiểm chứng của tác giả. Cách tiếp cận phù hợp không phải phủ nhận công nghệ, mà là đưa công nghệ vào khuôn khổ minh bạch và trách nhiệm.

Cuối cùng, văn hóa liêm chính cần được xây dựng ở cấp khoa, bộ môn, nhóm chuyên môn và nhóm đề tài. Nhiều chuẩn mực học thuật không hình thành từ văn bản cấp trường, mà từ cách lãnh đạo học thuật, người hướng dẫn và đồng nghiệp ứng xử trong công việc hằng ngày. Nếu việc ghi tên tác giả không đúng đóng góp, trích dẫn chiếu lệ, công bố thiếu thận trọng hoặc sử dụng dữ liệu chưa được kiểm chứng bị xem nhẹ, quy chế chung sẽ khó có tác dụng sâu. Ngược lại, nếu các nhóm học thuật duy trì chuẩn mực rõ ràng, tôn trọng đóng góp thực chất và xử lí công bằng các tình huống nhạy cảm, văn hóa liêm chính sẽ được củng cố từ bên trong.

Liêm chính học thuật - Năng lực tổ chức của đại học hiện đại

Liêm chính học thuật trong giáo dục đại học không thể được bảo đảm bằng một mệnh lệnh đơn lẻ. Đó là kết quả của sự phối hợp giữa giá trị nghề nghiệp của giảng viên, năng lực nghiên cứu, nguồn lực học thuật, bầu không khí nhà trường, hệ thống quản lí và giáo dục liêm chính được thiết kế có chiều sâu. Một đại học chỉ nhấn mạnh kiểm soát mà thiếu hỗ trợ sẽ khó tạo ra văn hóa khoa học bền vững; một đại học chỉ đề cao tự giác mà thiếu cơ chế bảo đảm sẽ khó bảo vệ chuẩn mực trước áp lực thành tích; một đại học khuyến khích công bố nhưng không đầu tư vào năng lực, dữ liệu và đạo đức nghề nghiệp sẽ đối mặt với rủi ro chất lượng.

Trong giai đoạn Việt Nam thúc đẩy đổi mới giáo dục, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, liêm chính học thuật cần được xem là hạ tầng mềm của đại học hiện đại. Hạ tầng ấy không hiện diện hữu hình như phòng thí nghiệm, thư viện số hay hệ thống quản trị, nhưng quyết định độ tin cậy của tri thức, phẩm giá của nghề học thuật và uy tín của nhà trường. Đại học có thể mở rộng hội nhập bằng công bố, xếp hạng và hợp tác quốc tế; song chỉ có thể phát triển bền vững khi liêm chính trở thành chuẩn mực vận hành hằng ngày của cộng đồng khoa học.

Tài liệu tham khảo

All European Academies. (2023). The European Code of Conduct for Research Integrity: Revised Edition 2023.

Bittle, K., & El-Gayar, O. (2025). Generative AI and Academic Integrity in Higher Education: A Systematic Review and Research Agenda. Information, 16, 296.

Bộ Chính trị. (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22 tháng 12 năm 2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22 tháng 8 năm 2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

Bộ Giáo dục và Đào tạo. (2021). Thông tư số 18/2021/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo trình độ tiến sĩ.

Chen, Z., Tu, B., & Esangbedo, M. O. (2026). Toward contextualized research integrity in higher education: A fuzzy-set analysis of individual and organizational configurations among university faculty. Scientific Reports.

Committee on Publication Ethics. (2023). Authorship and AI tools.

Resnik, D. B. (2011). What is the Singapore Statement on Research Integrity? Journal of Empirical Research on Human Research Ethics, 6(3), 71–75.

Roje, R., Elizondo, A. R., Kaltenbrunner, W., Buljan, I., & Marušić, A. (2023). Factors influencing the promotion and implementation of research integrity in research performing and research funding organizations: A scoping review. Accountability in Research, 30, 633–671.

Thủ tướng Chính phủ. (2024). Quyết định số 1705/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2024 phê duyệt Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

PV/BTV

Nguyễn Lê Vân An

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận