Khi được ban hành, Nghị định mới sẽ thay thế Nghị định số 86/2018/NĐ-CP, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 124/2024/NĐ-CP.
Đối với giáo dục mầm non và giáo dục phổ thông, dự thảo quy định 3 hình thức liên kết giáo dục gồm: thực hiện chương trình giáo dục của Việt Nam nhằm đạt mục tiêu cao hơn về chất lượng; thực hiện chương trình giáo dục tích hợp giữa chương trình của Việt Nam và chương trình nước ngoài; thực hiện chương trình giáo dục của nước ngoài.
Việc mở rộng hình thức liên kết đi cùng với yêu cầu bảo đảm nhiệm vụ giáo dục của cơ sở công lập. Theo đó, hoạt động liên kết không được ảnh hưởng đến nhiệm vụ giáo dục được giao, quyền học tập của học sinh và việc thực hiện giáo dục bắt buộc; không được sử dụng hoạt động liên kết để thay thế hoặc hạn chế việc thực hiện chương trình giáo dục bắt buộc.
Đối với chương trình giáo dục tích hợp, Sở GDĐT tổ chức thẩm định, phê duyệt trước khi thực hiện. Chương trình đã được một Sở GDĐT phê duyệt có thể được cơ sở giáo dục khác sử dụng mà không phải thẩm định, phê duyệt lại nếu không thay đổi nội dung chương trình.
Một đề xuất đáng chú ý là cho phép học sinh là công dân Việt Nam học chương trình giáo dục của nước ngoài ở cấp trung học phổ thông tại các cơ sở giáo dục thuộc đối tượng được phép, không quy định giới hạn tỷ lệ học sinh Việt Nam theo học.
Tuy nhiên, học sinh Việt Nam vẫn phải học các môn học bắt buộc theo quy định của pháp luật. Việc tổ chức chương trình phải bảo đảm mục tiêu giáo dục của Việt Nam, quyền và lợi ích hợp pháp của người học, đồng thời bảo đảm khả năng chuyển tiếp trong hệ thống giáo dục.
Ở giáo dục đại học, dự thảo quy định 3 hình thức liên kết gồm liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ; liên kết thành lập viện nghiên cứu, trung tâm đổi mới sáng tạo, phòng thí nghiệm trọng điểm; và phân hiệu của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam.
Trong giáo dục nghề nghiệp, các hình thức liên kết gồm liên kết đào tạo để cấp văn bằng, chứng chỉ và liên kết thành lập khoa, trung tâm, đơn vị chuyên môn.
Đối với văn phòng đại diện giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo chuyển trọng tâm quản lý sang công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm, đồng thời xác định rõ phạm vi hoạt động của các văn phòng này.
Dự thảo cũng bổ sung khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động hợp tác, đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục. Các thủ tục đầu tư tiếp tục thực hiện theo pháp luật về đầu tư và các quy định pháp luật có liên quan.
Tăng tự chủ, giảm tiền kiểm nhưng không giảm trách nhiệm
Đối với liên kết đào tạo với nước ngoài, dự thảo mở rộng quyền tự chủ của cơ sở giáo dục trong việc xem xét, quyết định theo quy trình nội bộ. Cơ chế phê duyệt trước chỉ được duy trì đối với một số trường hợp cần tăng cường kiểm soát chất lượng theo quy định.
Tương tự, đối với liên kết tổ chức thi, cấp chứng chỉ của nước ngoài, dự thảo đề xuất chuyển từ cơ chế phê duyệt trước sang cơ chế tự chủ quyết định gắn với công khai, thông báo, cập nhật dữ liệu và hậu kiểm.
Cùng với quyền tự chủ được mở rộng, trách nhiệm của các bên về chất lượng, an toàn, bảo mật, phòng, chống gian lận và bảo vệ quyền lợi người dự thi cũng được đặt rõ hơn.
Đối với cơ sở giáo dục có vốn đầu tư nước ngoài và phân hiệu của cơ sở giáo dục nước ngoài tại Việt Nam, dự thảo không quy định lại các điều kiện, trình tự, thủ tục đầu tư, thành lập và cho phép hoạt động đã được điều chỉnh bởi pháp luật về đầu tư và các nghị định chuyên ngành.
Cách tiếp cận này nhằm hạn chế sự chồng chéo trong quy định, đồng thời tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục chủ động hơn trong triển khai hoạt động hợp tác quốc tế.
Tuy nhiên, tự chủ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi cùng trách nhiệm giải trình. Vì vậy, dự thảo đồng thời tăng yêu cầu đối với cơ sở giáo dục, nhà đầu tư và các bên tham gia hợp tác, liên kết trong việc công khai thông tin, cập nhật dữ liệu, báo cáo và giải trình.
Dự thảo bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá mức độ tuân thủ và phân loại rủi ro để làm căn cứ áp dụng mức độ kiểm tra, giám sát phù hợp. Trong đó, ưu tiên giám sát từ xa thông qua dữ liệu, thông tin công khai, báo cáo, phản ánh của người học, nhà giáo, người lao động và kết quả kiểm định chất lượng.
Có thể thấy, điểm đáng chú ý trong hướng xây dựng Nghị định mới không chỉ nằm ở việc mở rộng các hình thức hợp tác, liên kết với nước ngoài mà còn ở cách thức quản lý. Khi thủ tục tiền kiểm được giảm bớt, yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình và hậu kiểm cần được thực hiện hiệu quả hơn.
Đây cũng là điều kiện để mở rộng hợp tác, đầu tư quốc tế nhưng vẫn giữ được yêu cầu cốt lõi của hoạt động giáo dục: chất lượng phải được bảo đảm, người học phải được bảo vệ và các chủ thể tham gia phải chịu trách nhiệm rõ ràng đối với hoạt động do mình thực hiện.