Trong nhiều năm, giáo dục nghề nghiệp đã có bước phát triển mạnh về quy mô, với mạng lưới cơ sở đào tạo phủ khắp các địa phương, đa dạng ngành nghề và trình độ đào tạo. Tuy nhiên, song hành với sự mở rộng ấy là những băn khoăn kéo dài về chất lượng. Không ít cơ sở đào tạo nghề vẫn bị đánh giá thấp do chương trình đào tạo chưa cập nhật, kiến thức thực hành chưa bắt kịp xu thế, đội ngũ giáo viên còn hạn chế trong điều kiện tiếp cận công nghệ sản xuất mới, chưa liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp. Thực tế này không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả đào tạo mà còn tác động trực tiếp đến phân luồng giáo dục. Khi chất lượng đầu ra không được đảm bảo đồng đều, người học khó có thể coi học nghề là lựa chọn lâu dài, dù nhu cầu nhân lực kỹ thuật của nền kinh tế ngày càng lớn.
Từ mở rộng mạng lưới đến nâng cao giá trị đào tạo
Giai đoạn đầu của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam gắn liền với mục tiêu mở rộng tiếp cận, bảo đảm cơ hội học nghề cho người học ở mọi vùng miền. Đây là bước đi cần thiết trong bối cảnh đất nước thiếu hụt lao động kỹ thuật và còn nhiều khoảng trống về đào tạo nghề.
Tuy nhiên, khi quy mô đã đạt đến một mức nhất định, bài toán đặt ra không còn về số lượng mà là chất lượng đào tạo của mỗi cơ sở. Việc duy trì một hệ thống rộng lớn nhưng chất lượng không đồng đều sẽ dẫn đến hệ quả kép: lãng phí nguồn lực đầu tư và suy giảm niềm tin xã hội.
Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) đã thể hiện rõ sự chuyển hướng chiến lược này khi xác lập chuẩn chất lượng. Giáo dục nghề nghiệp được yêu cầu phát triển dựa trên năng lực thực chất của từng cơ sở, từng chương trình đào tạo và đội ngũ giảng viên.
Chuẩn hoá chương trình đào tạo
Một trong những nội dung quan trọng của Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) là đổi mới chương trình, tổ chức đào tạo và đảm bảo chất lượng giáo dục nghề nghiệp thông qua quy định chuẩn chương trình, chuẩn cơ sở đào tạo; quản lí đăng ký hoạt động trên nền tảng dữ liệu số; công nhận kiến thức và kỹ năng đã tích lũy để người học tham gia các chương trình khác.
Việc ban hành chuẩn chương trình, chuẩn cơ sở đào tạo giúp người học và xã hội có thông tin đầy đủ, minh bạch về các chương trình để lựa chọn; đồng thời tạo động lực cho các cơ sở giáo dục nghề nghiêpbổ sung điều kiện đảm bảo chất lượng. Đây cũng là căn cứ để cơ quan quản lí nhà nước kiểm tra, đánh giá và có biện pháp xử lí đối với cơ sở không đạt chuẩn.
Luật cũng đổi mới mạnh mẽ cơ chế cấp phép khi chuyển từ cấp theo từng ngành nghề sang theo nhóm ngành, trao quyền chủ động hơn cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong xác định quy mô tuyển sinh phù hợp với điều kiện đảm bảo chất lượng. Trước khi tuyển sinh và đào tạo, cơ sở giáo dục nghề nghiệp có trách nhiệm đăng ký thông tin trên hệ thống dữ liệu chuyên ngành, tạo sự thông thoáng trong thủ tục hành chính và nâng cao giám sát xã hội, đồng thời triển khai hiệu quả chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp. Quy định công nhận kiến thức, kỹ năng tích lũy giúp tháo gỡ rào cản học tập, hỗ trợ người học thực hiện mục tiêu học tập suốt đời, giảm áp lực khi phải dung hòa giữa học tập và các ưu tiên khác trong cuộc sống.
Luật mới tạo cơ sở để tăng cường gắn kết giữa giáo viên và doanh nghiệp, khuyến khích giáo viên tham gia thực tế sản xuất, đồng thời mở rộng việc mời chuyên gia, kỹ sư, nghệ nhân từ doanh nghiệp tham gia giảng dạy. Đây là cách tiếp cận phù hợp với đặc thù của đào tạo nghề, nơi kinh nghiệm thực tiễn có vai trò không kém kiến thức lý thuyết.
Song song với các đổi mới mang tính đột phá, Luật sửa đổi, hoàn thiện nhiều quy định của Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 liên quan đến chương trình, trình độ, tổ chức hoạt động đào tạo; cơ cấu tổ chức; quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình; giảng viên, giáo viên, người dạy nghề; chính sách tài chính; tài sản; kiểm định chất lượng. Các sửa đổi này nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới phương thức quản lí nhà nước, giải quyết vướng mắc về hội đồng trường, nâng cao năng lực quản trị và đảm bảo điều kiện đào tạo thực chất.
Những thay đổi, hoàn thiện về mặt pháp lý là yêu cầu thiết yếu, tạo cơ sở để mang lại những chuyển biến tích cực trong thực tiễn. Chuẩn chất lượng phải đi liền với trách nhiệm giải trình, minh bạch thông tin và cơ chế xử lý rõ ràng đối với những cơ sở không đáp ứng yêu cầu. Khi chất lượng trở thành thước đo, giáo dục nghề nghiệp sẽ nâng tầm giá trị, trở thành trụ cột chiến lược phát triển nguồn nhân lực quốc gia và là lựa chọn đáng tin cậy của người học và xã hội.
Tài liệu tham khảo:
Quốc hội thông qua Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi): Hoàn thiện hệ thống, đạo đột phá phát triển nhân lực. https://moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop2/quoc-hoi-thong-qua-luat-giao-duc-nghe-nghiep-sua-doi-hoan-thien-he-thong-tao-dot-pha-phat-trien-nhan-luc.html