Đầu năm 2026, hai văn bản chính sách quan trọng được ban hành đã đánh dấu một bước tiến mới trong tư duy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo ở Việt Nam: Nghị định số 125/2026/NĐ-CP của Chính phủ về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, và Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ phê duyệt Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026–2030. Từ đây có thể thấy, hoạt động nghiên cứu trong cơ sở giáo dục đại học đang được đặt vào một khuôn khổ chính sách ngày càng rõ ràng và thực chất hơn, với các cơ chế hỗ trợ có trọng tâm, qua đó phục vụ trực tiếp mục tiêu nâng cao chất lượng nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực trình độ cao cho đất nước (Chính phủ, 2026; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026).
Theo Nghị định 125/2026/NĐ-CP, hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học được gắn với phát triển nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh, chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu, tăng cường liên kết với doanh nghiệp và phát triển hệ sinh thái học thuật trong và ngoài nước. Trong khi đó, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026–2030 dự kiến hỗ trợ khoảng 100 nghiên cứu sinh mỗi năm, với mức tối đa 1 tỷ đồng/người/năm trong thời gian không quá 3 năm (Chính phủ, 2026; Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Đây là những tín hiệu cho thấy cách tiếp cận chính sách đang chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang đầu tư có trọng tâm hơn cho lực lượng nghiên cứu trẻ có tiềm năng.
(Nguồn ảnh: znews)
Xét trong tương quan quốc tế, hướng đi này không phải là mới. Ở Đức, chính sách xuất sắc trong giáo dục đại học không chỉ tập trung vào cá nhân, mà được thiết kế đồng thời ở cấp đào tạo tiến sĩ, cụm nghiên cứu và năng lực thể chế đại học. Trong khuôn khổ chương trình Excellence Strategy, Đức đã tài trợ 57 cụm nghiên cứu xuất sắc (Clusters of Excellence) trong giai đoạn 2019–2025 với ngân sách thường niên 385 triệu euro; bước sang giai đoạn 2026–2032, số cụm được tài trợ tăng lên 70, với ngân sách thường niên 539 triệu euro (DFG, 2025; BMFTR, 2026). Điều đáng chú ý ở đây là sự xuất sắc không được hiểu như kết quả của việc “chọn người giỏi” đơn lẻ, mà được nuôi dưỡng trong những cấu trúc nghiên cứu có tổ chức, có tích lũy và có năng lực cạnh tranh.
Kinh nghiệm của Anh cũng cho thấy cách tiếp cận tương tự. Chương trình Centres for Doctoral Training (CDTs) của EPSRC không phải là các học bổng tiến sĩ rời rạc, mà là mô hình đào tạo tiến sĩ theo nhóm, được tổ chức bài bản, gắn với các ưu tiên chiến lược và các lĩnh vực công nghệ quan trọng. Trong vòng gọi tài trợ năm 2022, EPSRC dự kiến dành tới 324 triệu bảng để hỗ trợ khoảng 40 CDT. Đến tháng 3/2024, UKRI công bố tổng đầu tư cho 65 CDT vượt 1 tỷ bảng Anh, dự kiến đào tạo hơn 4.000 tiến sĩ trong 9 năm (EPSRC, 2022; UKRI, 2024). Ở đây, đào tạo tiến sĩ không chỉ gắn với công bố khoa học, mà còn gắn với phát triển kỹ năng nghiên cứu, hợp tác liên ngành và kết nối với các đối tác ngoài đại học.
Đặt trong bối cảnh đó, chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc của Việt Nam cho thấy một thay đổi đáng chú ý trong cách tiếp cận. Trọng tâm không còn chỉ là hỗ trợ người học hoàn thành quá trình đào tạo, mà đã chuyển rõ hơn sang đầu tư cho hoạt động nghiên cứu và những kết quả mà nghiên cứu có thể tạo ra. Theo cách nhìn này, nghiên cứu sinh không chỉ là người theo đuổi một văn bằng, mà còn là một lực lượng tham gia trực tiếp vào quá trình tạo ra tri thức mới, công bố khoa học, công nghệ, sở hữu trí tuệ và các giá trị có khả năng ứng dụng. Đây là một chuyển dịch cần thiết, phù hợp với xu hướng đào tạo tiến sĩ hiện nay, trong đó mục tiêu không dừng ở luận án hay bài báo, mà hướng tới việc hình thành những nhà nghiên cứu có năng lực sáng tạo, đổi mới và làm việc hiệu quả trong cả môi trường học thuật lẫn ngoài học thuật.
Tuy nhiên, từ một định hướng đúng đến hiệu quả thực tế luôn còn một khoảng cách cần được lấp đầy. Điều trước hết cần tính đến là hệ sinh thái nghiên cứu ở Việt Nam hiện vẫn chưa đồng đều. Sự khác biệt không chỉ nằm ở kinh phí hay cơ sở vật chất, mà còn ở sự hiện diện của các nhóm nghiên cứu đủ mạnh để dẫn dắt người trẻ. Một nghiên cứu sinh, dù xuất sắc đến đâu, cũng khó phát huy đầy đủ năng lực nếu phải làm việc mà thiếu người hướng dẫn mạnh, thiếu môi trường học thuật đủ tốt để học hỏi, thử nghiệm và trưởng thành. Vì vậy, hiệu quả của chính sách hỗ trợ nghiên cứu sinh phụ thuộc không nhỏ vào việc người học có được đặt trong những nhóm nghiên cứu thực sự có năng lực hay không.
Một vấn đề khác là không nên đánh đồng mọi lĩnh vực bằng cùng một hệ thước đo. Công bố Q1, bằng sáng chế hay thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu là những chỉ báo quan trọng, nhưng không phải ngành nào cũng tạo ra giá trị theo cùng một logic. Các lĩnh vực kỹ thuật, vật liệu, trí tuệ nhân tạo hay y sinh có thể tiến gần hơn tới nguyên mẫu, sáng chế hoặc hợp tác doanh nghiệp. Trong khi đó, khoa học xã hội, giáo dục hay nhân văn thường tạo tác động qua bằng chứng chính sách, cải tiến thể chế, thay đổi thực hành và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Nếu áp một khuôn KPI cứng cho tất cả, chính sách có thể vô tình đẩy các ngành vào cuộc chạy đua chỉ số, thay vì khuyến khích những đóng góp phù hợp với đặc trưng tri thức của từng lĩnh vực.
Liên kết với doanh nghiệp cũng là một điểm cần được nhìn nhận thực chất hơn. Trong nhiều mô hình quốc tế, đây không phải là một chi tiết mang tính hình thức, mà là một phần của thiết kế đào tạo và nghiên cứu. Đồng thời, các phân tích của OECD cho thấy hợp tác đại học - doanh nghiệp chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp có năng lực hấp thụ, khi tồn tại các cơ chế kết nối và trung gian phù hợp, và khi hệ sinh thái đổi mới có đủ điều kiện nền tảng để hai bên gặp nhau (OECD, 2017, 2026). Trong bối cảnh Việt Nam, nếu những điều kiện này chưa được chuẩn bị đầy đủ, yêu cầu thương mại hóa sản phẩm nghiên cứu rất dễ trở thành một mục tiêu đẹp trên giấy hơn là một động lực thực chất cho nghiên cứu.

Từ đó có thể thấy, Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc là một bước đi tích cực, phản ánh một hướng đầu tư có trọng tâm hơn cho nghiên cứu và cho lực lượng trẻ có tiềm năng. Tuy nhiên, để bước đi ấy tạo ra kết quả thực sự, cần đặt chương trình trong một môi trường học thuật đủ mạnh và một cơ chế vận hành đủ linh hoạt. Trên cơ sở đó, có thể gợi mở một số khuyến nghị chính sách và thực tiễn sau đây.
Thứ nhất, hỗ trợ nghiên cứu sinh cần gắn với phát triển nhóm nghiên cứu mạnh. Việc hỗ trợ cá nhân chỉ phát huy hiệu quả khi người học được đặt trong các nhóm có năng lực học thuật, có người hướng dẫn đủ mạnh, có hạ tầng và có mạng lưới hợp tác nghiên cứu. Do đó, lựa chọn nghiên cứu sinh xuất sắc nên đi kèm với các yêu cầu nhất định đối với nhóm nghiên cứu, đơn vị đào tạo và điều kiện học thuật nơi nghiên cứu sinh tham gia.
Thứ hai, cần thiết kế khung đánh giá theo hướng phân tầng và phù hợp với đặc thù lĩnh vực. Chuẩn mực chất lượng phải cao, nhưng không nên đồng nhất hóa đầu ra giữa các khối ngành. Bên cạnh các chỉ báo chung về chất lượng nghiên cứu, cần cho phép các lĩnh vực khác nhau thể hiện giá trị theo những dạng đầu ra phù hợp, chẳng hạn bài báo quốc tế, bằng sáng chế, sản phẩm thử nghiệm, bằng chứng chính sách, mô hình can thiệp hay tác động đối với thực tiễn quản trị và dịch vụ công.
Thứ ba, cần tiếp cận liên kết đại học - doanh nghiệp như một quá trình phát triển, không phải một điều kiện hình thức. Chính sách nên khuyến khích nhiều mức độ tham gia của doanh nghiệp, từ đồng xác định vấn đề nghiên cứu, đồng tài trợ, tiếp nhận nghiên cứu sinh thực tập, đồng hướng dẫn, đến thử nghiệm và chuyển giao kết quả. Điều quan trọng là thiết kế các cơ chế trung gian phù hợp để làm cho sự liên kết này khả thi trong bối cảnh năng lực hấp thụ của doanh nghiệp Việt Nam còn khác biệt lớn.
Thứ tư, cần cải thiện cơ chế vận hành theo hướng giảm kiểm soát hình thức và tăng niềm tin học thuật. Tinh thần chấp nhận rủi ro và độ trễ trong nghiên cứu được nêu trong Nghị định 125 chỉ có ý nghĩa khi được phản ánh trong cơ chế tài chính, thủ tục và đánh giá. Nếu cơ chế thực thi vẫn nặng về kiểm soát quy trình, thiên về hồ sơ và ngắn hạn, người làm nghiên cứu sẽ có xu hướng chọn những hướng đi an toàn hơn là theo đuổi các câu hỏi khoa học có tính mới và giá trị dài hạn.
Tựu trung, đầu tư cho nghiên cứu sinh xuất sắc là cần thiết, nhưng người xuất sắc không thể trưởng thành chỉ nhờ một quyết định cấp kinh phí. Họ chỉ có thể phát triển đầy đủ khi chính sách hỗ trợ con người được đặt trong một thể chế tôn trọng tự chủ học thuật, biết nuôi dưỡng nghiên cứu và chấp nhận rủi ro sáng tạo. Khi ấy, điều hướng tới sẽ không chỉ là có thêm những cá nhân nổi trội, mà là xây dựng được một hệ sinh thái học thuật đủ mạnh để tài năng được phát triển và lan tỏa bền vững.
Tài liệu tham khảo
BMFTR (2026). Excellence Strategy. BMFTR. https://www.bmftr.bund.de/EN/Research/ScienceSystem/HigherEducationInstitutions/ExcellenceStrategy/excellencestrategy_node.html
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Quyết định số 2103/QĐ-BKHCN ngày 13/4/2026 phê duyệt Chương trình hỗ trợ nghiên cứu sinh xuất sắc giai đoạn 2026–2030. Thư viện pháp luật. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Quyet-dinh-2103-QD-BKHCN-2026-Chuong-trinh-ho-tro-nghien-cuu-sinh-xuat-sac-2026-2030-701517.aspx
Chính phủ (2026). Nghị định số 125/2026/NĐ-CP ngày 06/4/2026 quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học. Thư viện pháp luật. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Giao-duc/Nghi-dinh-125-2026-ND-CP-hoat-dong-khoa-hoc-cong-nghe-trong-co-so-giao-duc-dai-hoc-700613.aspx
DFG (2025). Excellence Strategy. DFG. https://www.dfg.de/en/research-funding/funding-initiative/excellence-strategy
EPSRC (2022). EPSRC Centres for Doctoral Training. UKRI. https://www.ukri.org/opportunity/epsrc-centres-for-doctoral-training/
OECD (2017). Policy instruments to promote science-industry knowledge transfer (DSTI/STP/TIP(2017)7). OECD. https://one.oecd.org/document/DSTI/STP/TIP%282017%297/en/pdf
OECD (2026). Improving knowledge transfer and collaboration between science and business. OECD. https://www.oecd.org/en/publications/2021/12/improving-knowledge-transfer-and-collaboration-between-science-and-business-in-spain_a3d74d85.html
UKRI (2024). £1 billion doctoral training investment announced. UKRI. https://www.ukri.org/news/1-billion-doctoral-training-investment-announced/