Yêu cầu đột phá giáo dục từ thực tiễn
Trước yêu cầu của bối cảnh mới, giáo dục đóng vai trò là hệ thống kiến tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có năng lực đổi mới sáng tạo và thích ứng toàn cầu. Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá giáo dục và đào tạo nhấn mạnh yêu cầu tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng giáo dục, đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực. Nghị quyết đặt trọng tâm vào các nội dung lớn như: đổi mới quản trị giáo dục; nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo; hiện đại hóa chương trình, phương pháp dạy học; thúc đẩy tự chủ đại học; tăng cường chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.
Trước đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia cũng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá chiến lược. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển trong kỷ nguyên mới. Điều này đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia.
Bàn về vấn đề này, GS.TS Phạm Hồng Quang - Chủ tịch Hội đồng Giáo sư ngành Khoa học Giáo dục cho rằng, trong bối cảnh VUCA (biến động, bất định, phức tạp, mơ hồ), giáo dục phải giúp con người có bản lĩnh, trí tuệ và khả năng thích ứng. Đặt trong bối cảnh thực hiện hai Nghị quyết lớn, đây là một định hướng quan trọng cho toàn bộ quá trình đột phá giáo dục.
![]() |
![]() |
![]() |
|
|
Các chính sách đều xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển trong kỷ nguyên mới (Ảnh: Báo Nhân dân)
|
|
Đột phá giáo dục không thể tách rời chủ nghĩa nhân văn
Một trong những điểm nhấn của Nghị quyết 71-NQ/TW là phát triển con người toàn diện, hài hoà giữa tri thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực sáng tạo. Điều này tương đồng với quan điểm mà GS.TS Phạm Hồng Quang phân tích: giáo dục không chỉ là “truyền đạt” mà là quá trình dẫn con người vượt ra khỏi hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện hơn. Cũng theo GS, chủ nghĩa nhân văn phải là nền tảng của triết lý giáo dục thời đại số. Con người không thể bị giản lược thành “nguồn nhân lực” thuần tuý cho tăng trưởng kinh tế, giáo dục phải hướng tới sự phát triển toàn diện về thể chất, tinh thần, đạo đức, trách nhiệm xã hội.
Trong bối cảnh chuyển đổi số mạnh mẽ, nguy cơ “kỹ trị hoá” giáo dục là mối lo tiềm ẩn: quá chú trọng công nghệ, nền tảng số, dữ liệu lớn mà xem nhẹ yếu tố nhân văn. Thực tế đã xuất hiện những biểu hiện lệ thuộc vào công cụ, rút ngắn quá trình nhận thức chỉ để đạt kết quả nhanh. Vì vậy, khi triển khai các chính sách đột phá, mọi chương trình chuyển đổi số giáo dục phải đi kèm với giáo dục đạo đức số, năng lực tư duy phản biện và trách nhiệm công dân trong môi trường mạng. Công nghệ phải phục vụ con người, không thay thế tư duy và nhân cách.
So sánh với chính sách giáo dục trên thế giới, GS cũng chỉ ra rằng, mỗi một quốc gia có một triết lý giáo dục khác nhau. Singapore đề cao việc nắm bắt tốt tiếng Anh, tiếng mẹ đẻ và toán học. Ngoài ra, họ còn nhấn mạnh tới yếu tố đạo đức trong hệ thống giáo dục. Triết lý giáo dục của Hoa Kỳ dựa trên tính dân chủ, tự do. Triết lý này kế thừa truyền thống giáo dục châu Âu với chủ nghĩa tự do và nguyên tắc dân chủ là trên hết. Hy Lạp lại đề cao vai trò của giáo dục đối với nền kinh tế của đất nước. Vì thế, triết lý giáo dục của Hy Lạp luôn gắn với câu hỏi: “Tại sao cần có triết lý giáo dục? Và cái nó tạo ra là gì?”; Triết lý giáo dục của Nhật Bản đã tập trung từ thời Minh Trị và lấy đạo đức làm trung tâm. Nó được phản ánh theo nhiều cách khác nhau, có tác động tích cực và lâu dài đến toàn xã hội Nhật Bản. Tuy nhiên, những giá trị và tiêu chuẩn này đều có chung 3 mục tiêu: Hướng đến sự công bằng và bình đẳng; Tôn trọng văn hoá và đa dạng; Khuyến khích sự sáng tạo và đổi mới.
Chuyển từ “giáo dục đóng” sang “giáo dục mở” trong thực thi Nghị quyết 57-NQ/TW
Nghị quyết số 57-NQ/TW đặt mục tiêu tạo đột phá về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, coi chuyển đổi số là động lực then chốt. Điều này kéo theo yêu cầu đổi mới mô hình giáo dục: từ truyền thụ kiến thức sang phát triển năng lực sáng tạo.
GS Phạm Hồng Quang nhấn mạnh: Trong thời đại số, “giáo dục mở” và “xã hội học tập” là những giá trị lớn của nền văn minh mới. Giáo viên không còn là người duy nhất nắm giữ tri thức; lớp học không chỉ là không gian cố định; đánh giá không thể chỉ dựa vào điểm số. Liên hệ với tinh thần phát triển toàn diện con người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu từ sớm: Một nền giáo dục làm phát triển hoàn toàn những năng lực sẵn có của các em… Luật Giáo dục 2019 cũng xác định mục tiêu giáo dục là phát triển toàn diện con người Việt Nam. Điều này cho thấy, các Nghị quyết mới là sự tiếp nối và nâng cao tư tưởng giáo dục nhân văn đã được định hình trong lịch sử. Vấn đề là cách vận dụng trong bối cảnh mới.
Trong môi trường VUCA, giáo dục phải giúp người học hình thành năng lực thích ứng, hợp tác, sáng tạo. Nhưng sự đổi mới đó cần được đặt trên nền tảng giá trị: công bằng, tôn trọng đa dạng văn hoá, khuyến khích sáng tạo. Đột phá giáo dục phải là quá trình “hiện đại hóa có bản sắc”, không sao chép mô hình bên ngoài, mà lựa chọn triết lý phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển quốc gia.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu gay gắt, quốc gia nào sở hữu nguồn nhân lực sáng tạo, có bản lĩnh và trách nhiệm xã hội sẽ có lợi thế bền vững. Nhưng để làm được điều đó, cải cách giáo dục phải xuất phát từ một câu hỏi căn bản: Chúng ta muốn hình thành mẫu người như thế nào cho tương lai?
Khi câu trả lời là một con người phát triển toàn diện, có năng lực thích ứng và sáng tạo trong môi trường kết nối, thì mọi chính sách cần được triển khai nhất quán theo triết lý ấy. Đột phá giáo dục cần nằm ở chiều sâu tư tưởng. Trong mọi hoàn cảnh, giáo dục vẫn phải giữ vững nguyên tắc cốt lõi: tất cả cho con người, tất cả vì con người.


