Trong nhiều năm, giáo viên GDTX thực hiện nhiệm vụ trong bối cảnh đặc thù: đối tượng người học đa dạng về độ tuổi, trình độ; thời gian học linh hoạt (buổi tối, cuối tuần); nội dung đào tạo kết hợp văn hóa, nghề nghiệp và kỹ năng sống; nhiều hoạt động tư vấn, hỗ trợ học viên quay trở lại hệ thống giáo dục. Tuy nhiên, chế độ làm việc lại chưa có quy định chuyên biệt.
Việc áp dụng chung quy định của giáo dục phổ thông phần nào tạo ra độ “vênh” giữa khung pháp lý và thực tiễn. Một số trung tâm lúng túng trong xác định định mức tiết dạy, quy đổi hoạt động chuyên môn, bố trí nghỉ hè hoặc phân công giáo viên kiêm nhiệm. Sự thiếu đồng bộ này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lý và động lực nghề nghiệp của đội ngũ.
Thông tư 04/2026 vì thế xuất hiện như một lời giải cho yêu cầu cấp thiết: quản lý theo đặc thù, thay vì đồng nhất hóa cơ học.
Quy định rõ khung thời gian và định mức lao động
Điểm đáng chú ý của Thông tư 04/2026/TT-BGDĐT là quy định rõ khung thời gian làm việc, thời gian nghỉ hàng năm, định mức tiết dạy trong năm, số tuần giảng dạy, tuần dự phòng và tuần bồi dưỡng chuyên môn.
Cụ thể, thời gian làm việc của giáo viên giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên là 37 tuần bao gồm 35 tuần thực dạy và 02 tuần dự phòng); 03 tuần học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ; Số tuần thực hiện các nhiệm vụ khác theo yêu cầu của hoạt động nghềnghiệp.
Ngoài ra, thời gian làm việc của giáo viên giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên được quy đổi thành tiết dạy, bao gồm số tiết dạy trong 01 năm học và số tiết dạy trung bình trong 01 tuần theo định mức tiết dạy quy định tại Điều 7 Thông tư 04/2026/TT-BGDĐT. Đối với trưởng phòng, phó trưởng phòng, giám đốc, phó giám đốc bảo đảm 40 giờ/tuần, trong đó bao gồm số tiết dạy đối với giáo viên giữ chức vụ theo quy định. Với cách quy định khung thời gian này bảo đảm tính ổn định, vừa tạo độ linh hoạt cần thiết cho đặc điểm hoạt động liên tục của GDTX.
Quan trọng hơn, Thông tư quy định cơ chế quy đổi các hoạt động chuyên môn sang tiết dạy. Đây là điểm tiến bộ về mặt quản trị. Bởi trong thực tế, giáo viên GDTX không chỉ đứng lớp mà còn tham gia tư vấn học tập, hướng nghiệp, tổ chức hoạt động hỗ trợ người học, phối hợp doanh nghiệp, cập nhật chương trình đào tạo ngắn hạn… Nếu không có cơ chế quy đổi minh bạch, khối lượng lao động thực tế dễ bị “ẩn đi” trong báo cáo hành chính.
Việc chuẩn hóa nguyên tắc công khai, công bằng trong phân công nhiệm vụ cũng góp phần hạn chế tình trạng quá tải cục bộ hoặc phân bổ công việc thiếu cân đối giữa các giáo viên.
Đồng bộ với tinh thần Luật Nhà giáo
Thông tư 04/2026 được ban hành trong bối cảnh hệ thống giáo dục triển khai các quy định mới của Luật Nhà giáo (2025), trong đó nhấn mạnh quyền và nghĩa vụ của nhà giáo phải được xác định rõ ràng, minh bạch, tương thích với từng loại hình cơ sở giáo dục.
Có thể thấy, Thông tư không đơn thuần là văn bản hướng dẫn thi hành, mà còn cụ thể hóa tinh thần: chế độ làm việc phải phản ánh đúng đặc thù lao động nghề nghiệp. Điều này cho thấy tư duy quản lý đang chuyển từ “đồng nhất hóa” sang “phân loại theo chức năng và nhiệm vụ”.
Ở góc độ chính sách công, đây là bước đi thể hiện sự công nhận vị thế của GDTX trong hệ thống giáo dục quốc dân. Khi khung pháp lý được thiết kế riêng, GDTX không còn là “phân hệ bổ trợ”, mà được nhìn nhận như một cấu phần quan trọng của chiến lược phát triển nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập.
Tác động tích cực
Về tác động, trước hết Thông tư tạo cơ sở pháp lý ổn định cho đội ngũ giáo viên GDTX. Khi khối lượng công việc được xác định rõ ràng, việc đánh giá, xếp loại, chi trả chế độ và xây dựng kế hoạch nhân sự sẽ minh bạch hơn.
Thứ hai, văn bản góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động quản trị tại các trung tâm GDTX. Cơ chế quy đổi nhiệm vụ, yêu cầu bảo đảm 40 giờ làm việc/tuần đối với giáo viên kiêm nhiệm quản lý… tạo khung kỷ luật lao động rõ ràng, phù hợp với yêu cầu hiện đại hóa quản lý công.
Thứ ba, Thông tư gián tiếp thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy học. Khi giáo viên được đảm bảo quyền lợi và định mức hợp lý, họ có điều kiện đầu tư cho chuyên môn, đổi mới phương pháp và tăng cường hỗ trợ người học – đặc biệt là nhóm học viên có hoàn cảnh đặc thù.
Tuy nhiên, triển khai Thông tư cũng đặt ra một số thách thức. Ở nhiều địa phương, việc cân đối biên chế và ngân sách có thể gặp khó khăn nếu định mức mới làm tăng nhu cầu nhân lực. Bên cạnh đó, cần có hướng dẫn chi tiết để tránh cách hiểu khác nhau giữa các cơ sở, đặc biệt trong việc quy đổi nhiệm vụ chuyên môn.
Quan trọng hơn, để chính sách đi vào cuộc sống, năng lực quản trị của đội ngũ lãnh đạo trung tâm GDTX phải được nâng cao. Một khung pháp lý tiến bộ chỉ phát huy hiệu quả khi được vận hành bởi bộ máy đủ năng lực và trách nhiệm.
Định vị lại vai trò của giáo dục thường xuyên
Nhìn rộng hơn, Thông tư 04/2026 không chỉ giải quyết vấn đề nội bộ của một loại hình cơ sở giáo dục. Trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và yêu cầu đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho lực lượng lao động ngày càng cấp thiết, GDTX giữ vai trò then chốt trong hệ sinh thái học tập suốt đời.
Việc xây dựng chế độ làm việc riêng cho giáo viên GDTX vì thế mang ý nghĩa chiến lược: tạo nền tảng để thu hút, giữ chân và phát triển đội ngũ nhân lực chất lượng cho lĩnh vực này. Đây cũng có thể là tiền đề để tiếp tục rà soát chính sách phụ cấp, đãi ngộ, chuẩn nghề nghiệp và cơ hội thăng tiến của giáo viên GDTX trong thời gian tới.
Việc Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư 04/2026/TT-BGDĐT là bước chuyển quan trọng “vận dụng chung” sang “thiết kế đặc thù” trong quản lý nhà giáo. Văn bản không chỉ lấp đầy khoảng trống pháp lý mà còn khẳng định vị thế của giáo dục thường xuyên trong chiến lược phát triển giáo dục quốc gia.
Nếu được triển khai đồng bộ, nhất quán và gắn với nâng cao năng lực quản trị cơ sở, Thông tư sẽ góp phần khơi thông động lực nghề nghiệp, nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống GDTX qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu xây dựng xã hội học tập và phát triển nguồn nhân lực bền vững trong giai đoạn mới.