Theo văn bản hợp nhất, đối tượng thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo gồm:
Giáo viên tiểu học chưa có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên tiểu học hoặc chưa có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trở lên, tính từ ngày 1/7/2020 còn đủ 08 năm công tác (96 tháng) đối với giáo viên có trình độ trung cấp, còn đủ 07 năm công tác (84 tháng) đối với giáo viên có trình độ cao đẳng đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định;
Giáo viên trung học cơ sở (THCS) chưa có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên hoặc chưa có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm trở lên, tính từ ngày 1/7/2020 còn đủ 07 năm công tác (84 tháng) đến tuổi được nghỉ hưu theo quy định.
Việc xác định lộ trình và tổ chức thực hiện lộ trình nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên phải bảo đảm phù hợp với thực trạng đội ngũ giáo viên và điều kiện của các cơ sở giáo dục, địa phương; không để xảy ra tình trạng thiếu giáo viên giảng dạy.
Giai đoạn 2 từ ngày 1/1/2026 đến hết ngày 31/12/2030, thực hiện đối với số giáo viên còn lại để bảo đảm 100% số giáo viên mầm non hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm.
Đối với giáo viên tiểu học: Lộ trình thực hiện nâng trình độ chuẩn cũng thực hiện chia thành 2 giai đoạn tương tự giáo viên mầm non. Trong đó giai đoạn 1 bảo đảm đạt ít nhất 50% số giáo viên tiểu học đang được đào tạo hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân.
Đối với giáo viên THCS: Giai đoạn 1 bảo đảm đạt ít nhất 60% số giáo viên THCS đang được đào tạo hoặc đã hoàn thành chương trình đào tạo được cấp bằng cử nhân.
Để thực hiện đào tạo nâng trình độ chuẩn của giáo viên, địa phương có thể giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng cơ sở đào tạo thực hiện nâng trình độ chuẩn được đào tạo của giáo viên theo kế hoạch được phê duyệt. Việc giao nhiệm vụ hoặc đặt hàng đào tạo nâng trình độ chuẩn của giáo viên thực hiện theo quy định hiện hành về giao nhiệm vụ, đặt hàng sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên.
Giáo viên phải tự túc các khoản chi phí đào tạo nếu không hoàn thành chương trình đúng thời hạn
Theo văn bản hợp nhất, giáo viên tham gia đào tạo nâng trình độ chuẩn có quyền được cơ quan quản lý, sử dụng tạo điều kiện tham gia đào tạo nâng trình độ chuẩn; được thanh toán tiền học phí bằng mức thu học phí của cơ sở đào tạo nơi giáo viên theo học; được tính thời gian đào tạo vào thời gian công tác liên tục; được hưởng 100% lương và các chế độ, phụ cấp theo quy định của pháp luật.
Song song với đó, giáo viên được cử đi đào tạo nâng trình độ chuẩn phải có trách nhiệm thực hiện các quy định về đào tạo, quy chế và quy định về thời gian đào tạo; chịu sự quản lý của cơ sở đào tạo trong thời gian tham gia các hoạt động đào tạo.
Đặc biệt, giáo viên phải cam kết thực hiện nhiệm vụ, công vụ tại cơ sở giáo dục mầm non, cơ sở giáo dục phổ thông sau khi hoàn thành chương trình đào tạo trong thời gian ít nhất gấp 02 lần thời gian đào tạo. Trong suốt thời gian khóa học, giáo viên vẫn phải thực hiện các nhiệm vụ công tác theo quy định khi không phải tham gia các hoạt động đào tạo.
Trường hợp giáo viên không hoàn thành chương trình đào tạo theo thời gian quy định dẫn đến phải kéo dài thời gian đào tạo thì phải tự túc các khoản chi phí đào tạo phát sinh trong thời gian đào tạo kéo dài.
Giáo viên được cử đi đào tạo nâng trình độ chuẩn được đào tạo phải đền bù chi phí đào tạo khi thuộc một trong các trường hợp sau đây: Tự ý bỏ học, bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động trong thời gian đào tạo; không được cơ sở đào tạo cấp bằng tốt nghiệp, trừ trường hợp có lý do khách quan bất khả kháng được cơ quan có thẩm quyền xác nhận. Đã hoàn thành và được cấp bằng tốt nghiệp khóa học nhưng bỏ việc hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động khi chưa phục vụ đủ thời gian cam kết quy định tại điểm b khoản 2 Điều 10 Nghị định này.
Quy định mới cho thấy sự cân bằng tương đối rõ giữa quyền lợi và nghĩa vụ của giáo viên trong quá trình thực hiện nâng chuẩn. Việc được bảo đảm học phí và tính thời gian đào tạo vào thâm niên công tác là những chính sách hỗ trợ thiết thực, tạo động lực để giáo viên yên tâm tham gia học tập. Tuy nhiên, đi kèm với đó là các ràng buộc chặt chẽ về kỷ luật đào tạo và cam kết phục vụ sau khi hoàn thành chương trình, nhằm tránh tình trạng đầu tư nguồn lực nhưng không thu được hiệu quả lâu dài cho hệ thống.
Cách tiếp cận này là cần thiết trong bối cảnh ngân sách nhà nước còn hạn chế và nhu cầu chuẩn hóa đội ngũ ngày càng cao. Dù vậy, việc yêu cầu giáo viên vừa học tập, vừa đảm nhiệm công việc chuyên môn cũng đặt ra áp lực không nhỏ, đòi hỏi các cơ sở giáo dục phải có sự bố trí hợp lý để không ảnh hưởng đến chất lượng dạy học. Nếu triển khai linh hoạt và có hỗ trợ kịp thời, chính sách này có thể tạo động lực kép: vừa nâng cao trình độ đội ngũ, vừa củng cố tinh thần gắn bó của giáo viên với ngành.