Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) đang lấy ý kiến đối với dự thảo Thông tư quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Trong đó có quy định yêu cầu mỗi chương trình đại học phải có ít nhất 7 tiến sĩ chủ trì, 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện để nâng chuẩn chất lượng giáo dục đại học.
Việc xây dựng dự thảo Thông tư nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) năm 2025; thiết lập khung pháp lý đồng bộ, hiện đại để quản lý chương trình đào tạo trong bối cảnh đổi mới quản trị đại học theo hướng tăng cường tự chủ, trách nhiệm giải trình và bảo đảm chất lượng thực chất.
Đồng thời, dự thảo Thông tư quy định toàn diện các nội dung liên quan đến chương trình đào tạo, bao gồm: chuẩn chương trình đào tạo; quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành và tổ chức thực hiện chương trình; yêu cầu đối với giáo trình, học liệu; cơ chế rà soát, cải tiến và nâng cao chất lượng; cũng như việc thẩm tra, phê duyệt, đình chỉ hoặc chấm dứt thực hiện chương trình đào tạo ở các trình độ đại học, thạc sĩ và tiến sĩ.
Bên cạnh đó, tạo cơ sở để các cơ sở đào tạo chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện chương trình đào tạo gắn với nhu cầu thị trường lao động và hội nhập quốc tế.
Tăng tính linh hoạt, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng
Linh hoạt hóa chương trình đào tạo đáp ứng nhu cầu nhân lực chất lượng cao. Ảnh: Báo Người Lao động.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo Thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ “mở ngành đào tạo” sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng. Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo; đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, Thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá; tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Dự thảo Thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ; đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam.
Đáng chú ý, Thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.
Chương trình đào tạo trình độ đại học phải có ít nhất 7 tiến sĩ chủ trì
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Siết chặt điều kiện về giảng viên và công bố quốc tế đối với các trình độ đào tạo.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu. Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo. Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Có thể thấy, quy định về cơ sở vật chất và học liệu cho thấy một bước chuyển rõ rệt trong tư duy quản lí chất lượng đào tạo đại học: từ việc “đủ điều kiện để mở” sang “duy trì năng lực để đào tạo có chất lượng thực chất”. Khi các yêu cầu về phòng học, phòng thí nghiệm, hạ tầng số hay cơ sở thực hành được đặt ra một cách đồng bộ và gắn chặt với từng chương trình cụ thể, áp lực không còn dừng ở khâu phê duyệt ban đầu mà trải dài trong suốt vòng đời đào tạo. Điều này buộc các cơ sở giáo dục phải đầu tư bài bản, tránh tình trạng mở ngành theo phong trào nhưng thiếu nền tảng bảo đảm chất lượng.
Đáng chú ý, quy định về học liệu – đặc biệt là yêu cầu cập nhật định kỳ và đa dạng hóa hình thức (in và số) – phản ánh xu thế hiện đại hóa giáo dục, đồng thời góp phần thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và thực tiễn. Tuy nhiên, đi kèm với đó là thách thức không nhỏ về nguồn lực, nhất là đối với những cơ sở còn hạn chế về tài chính và hạ tầng.
Việc chuyển từ “tiền kiểm” sang giám sát chất lượng xuyên suốt cũng là một bước tiến phù hợp với thông lệ quốc tế, nhưng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm cơ chế kiểm tra, đánh giá minh bạch và năng lực tự bảo đảm chất lượng nội bộ của các trường. Nếu thực thi nghiêm túc, quy định này không chỉ nâng chuẩn đào tạo mà còn góp phần tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học theo hướng thực chất, bền vững hơn.