Thứ Sáu , 27/02/2026 , 11:04:13 GMT+7

Mở rộng chính sách để tạo đột phá nhân lực cho ngành Công nghiệp bán dẫn

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Hai, 12/01/2026, 09:42:19 GMT+7

Việt Nam đang đẩy mạnh triển khai Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050 với mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực chất lượng cao. Trong bối cảnh đó, các đề xuất mở rộng chính sách như miễn học phí, hỗ trợ học bổng cho nghiên cứu sinh được kỳ vọng tạo đột phá về chất lượng nguồn nhân lực.

Quản trị nguồn nhân lực ngành bán dẫn

Ngành công nghiệp bán dẫn là nền tảng của đổi mới công nghệ và tăng trưởng kinh tế, có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của nhiều ngành công nghệ cao. Công tác quản trị nguồn nhân lực sẽ là một trong những động lực quan trọng giúp Việt Nam vươn lên trở thành một mắt xích chiến lược trong chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu. Theo các mục tiêu đã được xác lập trong Chiến lược phát triển ngành Công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050, đến năm 2030, Việt Nam đặt mục tiêu đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực chất lượng cao cho ngành bán dẫn, trong đó có 42.000 kỹ sư, 7.500 thạc sĩ, 500 nghiên cứu sinh và khoảng 5.000 chuyên gia về trí tuệ nhân tạo phục vụ trực tiếp cho lĩnh vực này. Đây là những con số phản ánh quyết tâm mạnh mẽ của Nhà nước trong việc tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng bán dẫn toàn cầu.

Tạp chí giáo dục
Sinh viên Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội (Nguồn: website nhà trường)

Tuy nhiên, thực tế triển khai mục tiêu này đang gặp khó khăn: nguồn nhân lực vừa thiếu về số lượng, vừa hạn chế về chất lượng, đặc biệt ở trình độ sau đại học và đội ngũ nghiên cứu chuyên sâu. Chính vì vậy, việc mở rộng và làm sâu sắc hơn các chính sách phát triển nhân lực đang trở thành yêu cầu cốt lõi đối với sự thành công của chiến lược bán dẫn quốc gia.

Đào tạo gắn với nghiên cứu thực chất

Một trong những điểm mới đáng chú ý trong các đề xuất chính sách gần đây là Dự thảo chuẩn chương trình đào tạo tiến sĩ lĩnh vực vi mạch bán dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Theo Dự thảo, tham gia đào tạo trình độ tiến sĩ trong lĩnh vực vi mạch bán dẫn, người học được đề xuất miễn học phí, hỗ trợ kinh phí nghiên cứu và sinh hoạt, đồng thời phải đáp ứng chuẩn đầu ra cao với yêu cầu công bố quốc tế Q1, Q2, học tập. Cụ thể, nghiên cứu sinh bắt buộc học và nghiên cứu toàn thời gian tại cơ sở đào tạo. Trường hợp đang công tác tại cơ quan khác, người học cần tạm thời nghỉ việc để tập trung hoàn toàn cho hoạt động nghiên cứu trong thời gian từ 3-4 năm nhằm bảo đảm chất lượng đào tạo.

Về chuẩn đầu vào, dự kiến nghiên cứu sinh tiến sĩ phải tốt nghiệp đại học hoặc thạc sĩ loại giỏi ở ngành phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn; có kinh nghiệm nghiên cứu; ngoại ngữ bậc 4/6 (tương đương B2). Đầu ra, nghiên cứu sinh cần đáp ứng chuẩn kiến thức, kỹ năng và có ít nhất 2 bài báo khoa học về vi mạch bán dẫn, được công bố trên tạp chí quốc tế thuộc danh mục ISI/Scopus, ưu tiên nhóm Q1, Q2 (uy tín nhất). Cơ sở đào tạo chỉ được tuyển nghiên cứu sinh khi có đề tài khoa học phù hợp với lĩnh vực vi mạch bán dẫn và nguồn tài chính đảm bảo. Tiêu chí để xác định điều này sẽ được thảo luận cụ thể hơn trong quá trình lấy ý kiến Dự thảo.

Cũng theo Dự thảo, các tiêu chuẩn trong Dự thảo không bắt buộc với mọi cơ sở giáo dục đại học. Nhưng nếu tham gia, các trường sẽ được nhà nước ưu tiên đầu tư, giao đề tài nghiên cứu về vi mạch bán dẫn. Cách tiếp cận này phản ánh đúng đặc thù của ngành bán dẫn - một lĩnh vực đòi hỏi trình độ nghiên cứu rất cao, chi phí đào tạo lớn và yêu cầu khắt khe về năng lực đổi mới sáng tạo. Nghiên cứu sinh cần trở thành hạt nhân nghiên cứu, có khả năng tạo ra tri thức mới, tham gia giải quyết những bài toán cụ thể của doanh nghiệp và ngành công nghiệp.

Xây dựng hệ sinh thái nhân lực mạnh

Các chính sách đều nhằm mục tiêu xây dựng hệ sinh thái nhân lực bán dẫn hoàn chỉnh, trong đó đào tạo, nghiên cứu, sản xuất và thị trường lao động được kết nối chặt chẽ. Đào tạo kỹ sư, thạc sĩ và nghiên cứu sinh đang được định hướng thiết kế theo chuỗi liên thông, có lộ trình phát triển rõ ràng. Sinh viên đại học có năng lực được sớm phát hiện, bồi dưỡng thông qua các chương trình tài năng, tham gia nghiên cứu từ sớm trong phòng thí nghiệm, trung tâm thiết kế vi mạch. Ở bậc sau đại học, người học được tiếp cận với các dự án nghiên cứu - phát triển cụ thể, có sự tham gia của doanh nghiệp trong và ngoài nước. Nghiên cứu sinh, thạc sĩ, kỹ sư giỏi chỉ có thể phát huy năng lực khi có môi trường nghiên cứu đủ mạnh, với phòng thí nghiệm hiện đại, dữ liệu, thiết bị và nguồn kinh phí ổn định. Do đó, việc ưu tiên đầu tư cho các trung tâm nghiên cứu bán dẫn trọng điểm tại các cơ sở giáo dục đại học và viện nghiên cứu là điều kiện tiên quyết. Bên cạnh đó, với mục tiêu có 5.000 chuyên gia AI phục vụ ngành bán dẫn, Việt Nam khó có thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước. Chính sách đãi ngộ, điều kiện làm việc, cũng như sự cởi mở trong hợp tác quốc tế sẽ quyết định khả năng hiện thực hóa mục tiêu này.

Các đề xuất mới về chính sách đào tạo nghiên cứu sinh ngành bán dẫn cho thấy một bước tiến quan trọng trong tư duy phát triển nhân lực: từ số lượng sang chất lượng, từ đào tạo hàn lâm sang gắn với nghiên cứu và nhu cầu thực tiễn. Tuy nhiên, để đạt được mục tiêu đào tạo 50.000 nhân lực chất lượng cao vào năm 2030, chính sách cần được triển khai đồng bộ, quyết liệt và nhất quán.

Đặc biệt, mục tiêu cần sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu và doanh nghiệp. Nếu chính sách được thiết kế đủ linh hoạt, trao quyền nhiều hơn cho các cơ sở đào tạo và gắn trách nhiệm của doanh nghiệp trong đào tạo nhân lực, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để tạo ra một thế hệ kỹ sư, nhà khoa học bán dẫn đủ sức cạnh tranh trong khu vực.

Ở góc độ dài hạn, đầu tư cho nhân lực bán dẫn không chỉ phục vụ một ngành công nghiệp cụ thể, mà còn góp phần nâng cao mặt bằng khoa học - công nghệ quốc gia, thúc đẩy chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện cả nước có 26 cơ sở giáo dục đại học tham gia thực hiện Chương trình 1017 xây dựng các chương trình đào tạo về vi mạch bán dẫn, gồm 34 chương trình cử nhân, 17 chương trình kỹ sư bậc 6, 15 chương trình kỹ sư bậc 7 và 11 chương trình thạc sĩ.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận