Thứ Năm , 28/05/2026 , 16:16:11 GMT+7

Nhiều chính sách đầu tư cho nhân lực nghiên cứu để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 21/05/2026, 14:05:54 GMT+7

Trong làn sóng chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ toàn cầu, nhu cầu về nguồn nhân lực trình độ cao đang trở thành mục tiêu của Việt Nam. Ngoài kỹ sư, cử nhân, đất nước còn cần một lực lượng nghiên cứu sinh, tiến sĩ đủ năng lực dẫn dắt khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Nhu cầu nhân lực nghiên cứu trình độ cao của quốc gia

Khi nền kinh tế bước vào giai đoạn phát triển dựa vào tri thức, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, vai trò của đội ngũ nghiên cứu sinh trình độ cao ngày càng trở nên đặc biệt quan trọng. Những lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học, vật liệu mới hay chuyển đổi số đều cần lực lượng chuyên gia có khả năng nghiên cứu chuyên sâu, tạo ra tri thức mới và chuyển hóa thành sản phẩm thực tiễn.

Việt Nam phấn đấu đến năm 2030, đào tạo ít nhất 50.000 nhân lực đại học trở lên phục vụ ngành công nghiệp bán dẫn. Phấn đấu đến năm 2050, Việt Nam có đội ngũ nhân lực mạnh, gia nhập vào chuỗi giá trị ngành công nghiệp bán dẫn toàn cầu, đủ khả năng đáp ứng được yêu cầu phát triển ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam cả về chất lượng và số lượng. Tuy nhiên, theo nhiều chuyên gia, Việt Nam đang đứng trước khoảng trống lớn về nguồn nhân lực nghiên cứu chất lượng cao. Không ít trường đại học, viện nghiên cứu gặp khó khăn trong việc tuyển nghiên cứu sinh, đặc biệt ở các ngành khoa học cơ bản và công nghệ mũi nhọn. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp công nghệ lại “khát” nhân sự có trình độ nghiên cứu sâu, đủ năng lực tham gia các dự án phát triển công nghệ lõi.

Một trong những nguyên nhân quan trọng là đào tạo sau đại học tại Việt Nam vẫn đối mặt nhiều rào cản. Không ít nghiên cứu sinh vừa học vừa làm, thiếu thời gian đầu tư cho nghiên cứu, điều kiện tài chính còn hạn chế, môi trường học thuật chưa thực sự hấp dẫn. Trong khi đó, ở nhiều quốc gia phát triển, nghiên cứu sinh được xem là lực lượng trung tâm trong hệ sinh thái nghiên cứu. Đối tượng này được cấp học bổng, tham gia các nhóm nghiên cứu mạnh, có điều kiện tiếp cận phòng thí nghiệm hiện đại và kết nối chặt chẽ với doanh nghiệp. Đây cũng là lý do khiến nhiều sinh viên giỏi của Việt Nam lựa chọn học tiến sĩ ở nước ngoài thay vì tiếp tục nghiên cứu trong nước.

Chính sách quốc gia đang chuyển mạnh sang phát triển nhân lực nghiên cứu

Những năm gần đây, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực nghiên cứu khoa học và công nghệ, đã được đặt ở vị trí trung tâm trong nhiều chiến lược lớn của quốc gia.

Một trong những dấu mốc quan trọng là Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực then chốt để phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 phát triển mạnh nguồn nhân lực nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, tăng nhanh số lượng nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực chiến lược. Đại hội XIV của Đảng vừa qua cũng đặt mục tiêu rõ ràng: Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong ba đột phá chiến lược giai đoạn 2026-2030, bên cạnh hoàn thiện thể chế và phát triển hạ tầng đồng bộ. Quan điểm xuyên suốt là coi con người là trung tâm của phát triển, vừa là động lực, vừa là mục tiêu của chiến lược phát triển đất nước.

Trước đó, Chính phủ cũng đã ban hành Chiến lược quốc gia về thu hút, trọng dụng nhân tài đến năm 2030, tầm nhìn 2050 nhằm tạo cơ chế phát hiện, đào tạo và giữ chân nhân lực chất lượng cao. Đây là cơ sở quan trọng để các trường đại học, viện nghiên cứu và địa phương xây dựng chính sách thu hút nhà khoa học trẻ, nghiên cứu sinh và chuyên gia quốc tế.

Ở lĩnh vực giáo dục đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang thúc đẩy mô hình đại học nghiên cứu, tăng cường đầu tư các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm trọng điểm và đào tạo tiến sĩ theo chuẩn quốc tế. Nhiều đề án quốc gia về phát triển STEM, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo hay chuyển đổi số đều đặt yêu cầu xây dựng đội ngũ nghiên cứu sinh làm nền tảng lâu dài. Nghiên cứu sinh phải được tham gia dự án khoa học thực chất, có học bổng, có điều kiện công bố quốc tế và cơ hội nghề nghiệp rõ ràng sau tốt nghiệp.

Các địa phương và trường đại học lớn tăng cường đầu tư cho nhân lực trình độ cao

Nhiều địa phương cũng xem phát triển nhân lực sau đại học là yếu tố cạnh tranh chiến lược trong thu hút đầu tư và phát triển kinh tế tri thức.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là một trong những nhiệm vụ quan trọng để xây dựng đô thị thông minh và trung tâm đổi mới sáng tạo của cả nước. Thành phố đang triển khai nhiều chính sách gắn với thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW, trong đó chú trọng đào tạo sau đại học, thu hút chuyên gia và nhân lực nghiên cứu phục vụ các ngành công nghệ cao.

Theo định hướng phát triển giai đoạn mới, Thành phố Hồ Chí Minh ưu tiên nguồn nhân lực trong các lĩnh vực trí tuệ nhân tạo, vi mạch bán dẫn, công nghệ sinh học, tài chính quốc tế và chuyển đổi số. Nhiều chương trình hợp tác giữa trường đại học với doanh nghiệp công nghệ cũng được thúc đẩy nhằm tạo môi trường nghiên cứu gắn với thực tiễn. Thời gian tới, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh sẽ công bố danh mục các nhiệm vụ khoa học và công nghệ có gắn với đào tạo sau đại học cùng nhu cầu tuyển học viên, nghiên cứu sinh; đồng thời thiết lập cơ chế kết nối trực tiếp giữa người học với chủ nhiệm nhiệm vụ và người hướng dẫn. Các cơ sở đào tạo trong hệ thống sẽ tổ chức tuyển sinh, phối hợp đào tạo và quản lý người học; chủ động huy động nguồn lực đối ứng, ký kết cam kết trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo - chủ nhiệm nhiệm vụ - người học. Đồng thời, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hành Chương trình hỗ trợ đào tạo sau đại học gắn với nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030 (VNU-EGP). Theo đó, mỗi nghiên cứu sinh tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có thể được hỗ trợ tài chính lên đến 560 triệu đồng, còn học viên được hỗ trợ tối đa là 160 triệu đồng, khi đáp ứng các yêu cầu về học tập, nghiên cứu và chuẩn đầu ra.

Tạp chí giáo dục
Những năm gần đây, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực nghiên cứu khoa học và công nghệ, đã được đặt ở vị trí trung tâm trong nhiều chiến lược lớn của quốc gia (Nguồn: website Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)


Thành ủy Hà Nội cũng đã ban hành Kế hoạch hành động, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên địa bàn thành phố. Trong đó, đặt ra mục tiêu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố bao gồm nhiệm vụ đào tạo 1.000 nghiên cứu sinh trong giai đoạn 2026 - 2030.

Nhiều trường đại học lớn cũng chủ động xây dựng chính sách riêng để thu hút nghiên cứu sinh và nhà khoa học trẻ. Một số đại học lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội xây dựng các phòng thí nghiệm nghiên cứu hiện đại, gắn với đào tạo sau đại học và nghiên cứu ứng dụng.

Một thực tế hiện nay là nhiều sinh viên giỏi chưa mặn mà với con đường học thuật vì thu nhập thấp, áp lực cao và cơ hội nghề nghiệp chưa thực sự rõ ràng. Nếu nghiên cứu sinh vẫn phải tự xoay xở tài chính, vừa học vừa làm để trang trải cuộc sống, rất khó kỳ vọng vào các công trình nghiên cứu có chiều sâu hay các phát minh mang tính đột phá.

Vì vậy, việc gắn kết giữa trường đại học - viện nghiên cứu - doanh nghiệp mang ý nghĩa rất quan trọng. Khi doanh nghiệp tham gia đặt hàng nghiên cứu, tài trợ phòng thí nghiệm hoặc đồng hành cùng các đề tài tiến sĩ, nghiên cứu sinh sẽ có thêm môi trường thực hành và cơ hội thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Muốn xây dựng nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo, Việt Nam cần một lực lượng nghiên cứu đủ mạnh, đủ khả năng hội nhập quốc tế. Điều này không thể hình thành trong thời gian ngắn, mà đòi hỏi quá trình đầu tư dài hạn cho đào tạo sau đại học, đặc biệt là đội ngũ nghiên cứu sinh. Có thể thấy phát triển nhân lực nghiên cứu chất lượng cao đang dần trở thành ưu tiên hàng đầu. Tuy nhiên, để chính sách đi vào thực chất, điều quan trọng nhất vẫn là tạo được môi trường học thuật hấp dẫn, nơi người trẻ có thể toàn tâm theo đuổi nghiên cứu, được ghi nhận bằng năng lực và có cơ hội phát triển lâu dài.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận