Xu hướng nâng chuẩn chất lượng trong dạy và học
Hà Nội vừa ban hành Quy định số 54/2026/QĐ-UBND về tiêu chí công nhận cơ sở giáo dục chất lượng cao. Theo quy định mới, cơ sở giáo dục chất lượng cao phải đáp ứng đồng thời nhiều tiêu chí về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên, chương trình đào tạo, năng lực ngoại ngữ, chuyển đổi số và chất lượng đầu ra của học sinh. Đáng chú ý, học sinh trung học cơ sở phải đạt trình độ ngoại ngữ tối thiểu bậc B1, học sinh trung học phổ thông đạt bậc B2 theo Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc Việt Nam hoặc tương đương. Ngoài ra, các trường phải có tối thiểu 90% học sinh đạt kết quả học tập mức khá, tốt; tỷ lệ bỏ học, lưu ban thấp hơn mức trung bình của thành phố; ít nhất 98% học sinh đạt kết quả rèn luyện khá, tốt.
Hà Nội là địa phương chịu áp lực dân số cao, cùng với đó là sự gia tăng về nhu cầu môi trường giáo dục có điều kiện học tập tốt hơn. Nhiều phụ huynh mong muốn con được học trong môi trường sĩ số thấp hơn, tăng cường ngoại ngữ, kỹ năng số, hoạt động trải nghiệm và có điều kiện tiếp cận phương pháp giáo dục hiện đại.
Sự xuất hiện của các trường công lập chất lượng cao được xem như một cách đa dạng hóa hệ thống giáo dục công lập. Thay vì chỉ tồn tại một mặt bằng chung, hệ thống có thêm những mô hình tiên phong để thử nghiệm cách tổ chức dạy học mới, nâng chuẩn quản trị trường học và tạo động lực cạnh tranh về chất lượng.
Thực tế, nhiều địa phương cũng đang hướng tới xây dựng các mô hình trường học có tính dẫn dắt tương tự như trường chuyên trước đây. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, hệ thống “trường tiên tiến, hội nhập quốc tế” được phát triển theo hướng tăng cường ngoại ngữ, ứng dụng STEM và đổi mới phương pháp dạy học, với một số trường công lập được trao quyền tự chủ cao hơn về tài chính và chương trình. Ở Hải Phòng, thành phố chú trọng đầu tư các trường trọng điểm, trường có yếu tố song ngữ và chuẩn quốc tế nhằm nâng chất lượng giáo dục khu vực đô thị. Trong khi đó, Đà Nẵng lại lựa chọn hướng đi gắn với mô hình “trường học thông minh”, tập trung vào hạ tầng số, công nghệ và định hướng phát triển nguồn nhân lực phục vụ đô thị số. Một số địa phương khác như Cần Thơ, Quảng Ninh, Bình Dương hay Bắc Ninh cũng đã hình thành các trường trọng điểm, trường công lập tự chủ hoặc mô hình chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người dân.
Điểm chung của các địa phương là đều hướng tới xây dựng những “hạt nhân đổi mới” trong hệ thống giáo dục phổ thông: sĩ số lớp học thấp hơn, tăng cường ngoại ngữ, chú trọng kỹ năng số, trải nghiệm và phương pháp dạy học hiện đại.
Cần đảm bảo mọi học sinh được tiếp cận giáo dục bình đẳng
Thực tiễn triển khai cũng cho thấy một số khó khăn: làm thế nào để vừa nâng chuẩn chất lượng, vừa bảo đảm khả năng chi trả của phụ huynh và không tạo ra khoảng cách trong tiếp cận giáo dục? Đây cũng là lý do nhiều chuyên gia cho rằng, giá trị lớn nhất của mô hình này không nằm ở số lượng trường được công nhận chất lượng cao, mà ở khả năng lan tỏa các yếu tố tích cực về quản trị, chương trình đến phương pháp dạy học ra toàn hệ thống giáo dục công lập.
Một trong những vấn đề được phụ huynh quan tâm nhiều nhất chính là học phí. Theo phương án được công bố, một số trường tại Hà Nội dự kiến chuyển sang mô hình chất lượng cao có mức học phí cao hơn đáng kể so với mặt bằng trường công thông thường. Có trường dự kiến thu từ khoảng 2,5 - 3 triệu đồng/tháng, chưa bao gồm nhiều khoản dịch vụ khác như bán trú, xe đưa đón hay đồng phục. Với nhiều gia đình, mức học phí này đã là một khoản chi đáng cân nhắc. Khi đó, trường công lập chất lượng cao rất dễ rơi vào tình trạng khó tiếp cận, tạo ra sự phân tầng trong chính hệ thống giáo dục công lập.
Thực tế cho thấy, ở nhiều nơi, khái niệm “chất lượng cao” đôi khi vẫn bị hiểu theo hướng đồng nghĩa với cơ sở vật chất đẹp hơn, học phí cao hơn hoặc có thêm yếu tố ngoại ngữ. Trong khi đó, điều quyết định chất lượng giáo dục không chỉ nằm ở phòng học thông minh hay thiết bị hiện đại. Một trường học có chất lượng thật sự phải được đo bằng sự tiến bộ của học sinh, năng lực sư phạm của giáo viên, văn hóa nhà trường, khả năng hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện và mức độ hạnh phúc của người học.
Nếu không kiểm soát chặt chẽ, mô hình trường chất lượng cao có thể trở thành cuộc cạnh tranh về hình thức, tạo áp lực tài chính cho phụ huynh nhưng chưa chắc tạo ra khác biệt tương xứng về chất lượng đào tạo.
Một thực tế đáng chú ý là hiện nay số lượng trường công lập chất lượng cao vẫn rất nhỏ so với quy mô toàn hệ thống. Hà Nội có gần 3.000 trường học nhưng chỉ có 17 trường công lập chất lượng cao.
Điều đó cho thấy, dù mô hình này có mở rộng thì phần lớn học sinh vẫn học ở các trường công lập đại trà. Vì vậy, bài toán quan trọng nhất của giáo dục phổ thông là nâng mặt bằng chất lượng chung của toàn hệ thống. Nếu một số trường được đầu tư mạnh về cơ sở vật chất, giáo viên, công nghệ, trong khi nhiều trường khác vẫn thiếu phòng học, thiếu giáo viên, sĩ số đông thì khoảng cách giáo dục sẽ ngày càng lớn hơn.
Đặc biệt trong bối cảnh giáo dục phổ thông đang triển khai Chương trình giáo dục phổ thông 2018 với yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường năng lực số, phát triển phẩm chất và năng lực người học, việc nâng chất lượng phải diễn ra đồng đều hơn thay vì chỉ tập trung ở một nhóm trường. Mục tiêu cốt lõi của giáo dục phổ thông vẫn là bảo đảm cơ hội học tập công bằng cho mọi học sinh.
Mọi học sinh đều cần được học trong môi trường đủ phòng học, đủ giáo viên, có điều kiện học tập hiện đại và được tiếp cận phương pháp giáo dục tiến bộ, khi đó khoảng cách giữa trường đại trà và trường chất lượng cao mới thực sự được thu hẹp.