Khi bạo lực học đường không còn là chuyện riêng của nhà trường
Bạo lực học đường từ lâu đã trở thành một trong những vấn đề gây ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển toàn diện của học sinh, tác động không chỉ đến kết quả học tập mà còn để lại hệ lụy tâm lí, xã hội kéo dài. Trong bối cảnh giáo dục hiện nay, khi môi trường học tập ngày càng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ mạng xã hội, công nghệ số và những biến đổi trong đời sống gia đình, cộng đồng, bạo lực học đường cũng đang biểu hiện dưới nhiều hình thức phức tạp hơn, không chỉ dừng lại ở xô xát thể chất mà còn lan sang bạo lực tinh thần, ngôn từ, cô lập xã hội hay bắt nạt trên không gian mạng.
Từ góc độ chính sách, phòng chống bạo lực học đường đã được xác định là một nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục trong nhiều năm qua. Quyết định số 1895/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, Kế hoạch số 588/KH-BGDĐT về phòng, chống bạo lực học đường trong ngành Giáo dục hay Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực học đường trong cơ sở giáo dục cho thấy những nỗ lực từng bước của ngành nhằm xây dựng môi trường học tập an toàn, lành mạnh cho học sinh. Song song với đó, công tác tư vấn tâm lí học đường theo Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT, hoạt động công tác xã hội trong trường học theo Thông tư số 33/2018/TT-BGDĐT cũng từng bước được triển khai nhằm tăng cường hỗ trợ học sinh trong môi trường giáo dục. Những định hướng của Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 về phát triển phẩm chất, năng lực, xây dựng văn hóa ứng xử và môi trường học tập an toàn cũng cho thấy yêu cầu ngày càng cao đối với nhà trường trong phòng ngừa các hành vi lệch chuẩn và bạo lực học đường.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy các giải pháp hiện nay phần lớn vẫn tập trung vào tuyên truyền, xử lí tình huống hoặc can thiệp khi sự việc đã xảy ra. Điều này đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận lại cách tiếp cận: thay vì chỉ ứng phó trước mắt, giáo dục cần hướng đến xây dựng các mô hình phòng ngừa có tính hệ thống, chủ động và lâu dài. Thực tế, nhiều giải pháp hiện nay vẫn mang tính đơn lẻ, lồng ghép hoặc triển khai theo từng hoạt động riêng biệt, trong khi sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng ở không ít nơi chưa thực sự đồng bộ. Do đó, việc nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế không nhằm sao chép nguyên mẫu mà giúp nhận diện những nguyên tắc chung để từ đó phát triển các mô hình phù hợp với điều kiện văn hóa, pháp lí và tổ chức giáo dục tại Việt Nam.
Một “bức tranh nóng” về bạo lực học đường toàn cầu
Nhìn từ số liệu quốc tế, bạo lực học đường không phải là câu chuyện riêng của bất kì quốc gia nào. Theo các thống kê được nghiên cứu tổng hợp, hàng trăm triệu trẻ em trên thế giới từng là nạn nhân của bắt nạt hoặc các hành vi bạo lực trong trường học. Ở nhiều quốc gia phát triển như Hoa Kì, Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, số vụ bạo lực học đường vẫn ở mức đáng lo ngại, thậm chí có xu hướng gia tăng và biến đổi theo các hình thức mới. Điều đáng chú ý là bạo lực học đường hiện không chỉ biểu hiện ở hành vi đánh nhau hay gây thương tích mà còn chuyển dịch mạnh sang bạo lực tinh thần, bạo lực mạng, cô lập xã hội hoặc xâm phạm danh dự, nhân phẩm. Đây là dạng tổn thương khó nhận diện nhưng có thể để lại hậu quả tâm lí lâu dài đối với học sinh.
Ở Việt Nam, thực trạng này cũng đang đặt ra nhiều trăn trở. Các khảo sát cho thấy tình trạng học sinh bị bắt nạt, xúc phạm, đe dọa hoặc tham gia các hành vi gây tổn thương trong trường học không phải là hiếm gặp. Đáng lưu ý, nhiều vụ việc diễn ra ngay trong khuôn viên trường học hoặc xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhưng leo thang thành bạo lực nghiêm trọng. Điều này cho thấy nếu chỉ dừng ở việc tuyên truyền đạo đức hay xử lí vi phạm thì khó có thể tạo ra thay đổi bền vững. Từ thực trạng trên, nhu cầu xây dựng các mô hình phòng chống bạo lực học đường mang tính khoa học, có quy trình vận hành rõ ràng và cơ chế phối hợp hiệu quả trở nên đặc biệt cấp thiết.
Từ thế giới: Phòng chống bạo lực học đường không thể là nhiệm vụ đơn lẻ
Một điểm đáng chú ý từ các mô hình quốc tế là hầu như không quốc gia nào xem phòng chống bạo lực học đường là trách nhiệm riêng của nhà trường. Thay vào đó, các mô hình hiệu quả thường đặt trọng tâm vào sự phối hợp liên ngành và sự tham gia của cộng đồng.
Mô hình Cardiff của Vương quốc Anh là ví dụ tiêu biểu cho cách tiếp cận dựa trên dữ liệu và hợp tác đa cơ quan. Điểm đặc biệt của mô hình không nằm ở những biện pháp xử phạt mà ở việc chia sẻ thông tin giữa ngành giáo dục, y tế, cơ quan thực thi pháp luật và cộng đồng để nhận diện sớm nguy cơ bạo lực. Dữ liệu về thời gian, địa điểm, đặc điểm các vụ việc được thu thập nhằm xây dựng các giải pháp phòng ngừa phù hợp. Chính cách tiếp cận dựa trên bằng chứng này đã góp phần giảm đáng kể các trường hợp thương tích liên quan đến bạo lực.
Trong khi đó, mô hình của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy phòng chống bạo lực học đường cần được xây dựng như một chiến lược tổng thể của nhà trường. Không chỉ dừng ở ban hành nội quy hay tuyên truyền, mô hình nhấn mạnh đến việc phát triển lãnh đạo nhà trường, đào tạo giáo viên, thu thập dữ liệu, cải thiện môi trường học đường và huy động sự tham gia của phụ huynh, cộng đồng. Điểm đáng chú ý là yếu tố “đánh giá” được xem như một mắt xích quan trọng để điều chỉnh hoạt động theo thực tiễn thay vì triển khai mang tính phong trào.
Ở Trung Quốc, mô hình “Phó hiệu trưởng pháp chế” cho thấy vai trò của giáo dục pháp luật trong phòng ngừa bạo lực học đường. Việc đưa những người có chuyên môn pháp lí tham gia trực tiếp vào hoạt động trường học không chỉ góp phần nâng cao hiểu biết pháp luật mà còn tăng tính nghiêm minh, khách quan trong xử lí các tình huống phát sinh. Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lưu ý rằng mô hình này vẫn cần được bổ sung thêm các hỗ trợ tâm lí để tránh thiên về xử lí hành vi mà chưa giải quyết đầy đủ căn nguyên cảm xúc của học sinh.
Trong khi đó, mô hình “Tổ hòa giải” ở Nga lại gợi mở một hướng tiếp cận nhân văn hơn, đặt trọng tâm vào phục hồi mối quan hệ và chữa lành tổn thương. Thay vì chỉ xác định đúng - sai, mô hình hướng tới tạo cơ hội đối thoại, chia sẻ và hòa giải với sự tham gia của giáo viên, phụ huynh và học sinh. Đây là cách tiếp cận cho thấy phòng chống bạo lực học đường không chỉ là ngăn chặn hành vi mà còn là xây dựng văn hóa ứng xử tích cực trong trường học.
Việt Nam đã có những bước đi đầu tiên nhưng còn nhiều khoảng trống
So với kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam đã có một số mô hình phòng chống bạo lực học đường được triển khai tại các địa phương như mô hình phối hợp giữa nhà trường - công an - phụ huynh, câu lạc bộ phòng chống vi phạm pháp luật và bạo lực học đường, mô hình an toàn mạng Internet hay mô hình tự quản của học sinh. Một số trường học cũng bắt đầu kết hợp công tác tham vấn tâm lí và công tác xã hội trường học trong hỗ trợ học sinh.
Tuy nhiên, nhìn tổng thể, các mô hình hiện nay vẫn chủ yếu mang tính thử nghiệm, quy mô nhỏ hoặc phụ thuộc nhiều vào điều kiện của từng địa phương, từng trường học. Hoạt động thường tập trung vào tuyên truyền, lồng ghép trong giờ học hoặc sinh hoạt ngoại khóa, trong khi việc xây dựng quy trình can thiệp, cơ chế dữ liệu hay đội ngũ chuyên trách vẫn còn hạn chế. Công tác tập huấn cho giáo viên, cha mẹ học sinh tuy đã được thực hiện nhưng chưa thường xuyên và thiếu chiều sâu thực hành.
Điều này cho thấy, nếu muốn nâng cao hiệu quả phòng chống bạo lực học đường trong thời gian tới, cần chuyển từ cách tiếp cận đơn lẻ sang mô hình tích hợp, có sự phối hợp thực chất giữa nhà trường, gia đình, cơ quan chức năng và cộng đồng. Đồng thời, việc đầu tư cho tham vấn tâm lí học đường, xây dựng cơ chế cảnh báo sớm và đào tạo đội ngũ chuyên trách cần được xem là những ưu tiên quan trọng.
Hướng tới một môi trường học đường an toàn từ gốc
Những bài học từ các mô hình quốc tế và thực tiễn Việt Nam cho thấy, không có một công thức chung cho mọi quốc gia trong phòng chống bạo lực học đường. Tuy nhiên, điểm gặp gỡ của các mô hình hiệu quả là đều hướng tới phòng ngừa từ sớm, dựa trên dữ liệu, tăng cường phối hợp đa lực lượng và xây dựng môi trường học đường tích cực.
Trong bối cảnh giáo dục Việt Nam đang thúc đẩy đổi mới quản trị nhà trường và phát triển trường học an toàn, việc hoàn thiện các mô hình phòng chống bạo lực học đường cần được đặt trong một chiến lược dài hạn, thay vì chỉ xử lí theo vụ việc. Khi nhà trường không chỉ là nơi truyền đạt tri thức mà còn trở thành không gian an toàn về cảm xúc, nơi học sinh được lắng nghe, hỗ trợ và phát triển tích cực, đó cũng là lúc phòng chống bạo lực học đường đi vào chiều sâu và tạo ra những thay đổi bền vững.
Tài liệu tham khảo
Bộ Công an (2012). Báo cáo về thực trạng phạm tội do người chưa thành niên và trẻ em thực hiện ở Việt Nam.
Bộ Công an (2023). Báo cáo về tình hình học sinh vi phạm kỉ luật liên quan đến hành vi đánh nhau, đe dọa, lôi kéo bạo lực học đường.
Bộ GD-ĐT (2017). Thông tư số 31/2017/TT-BGDĐT ngày 18/12/2017 hướng dẫn thực hiện công tác tư vấn tâm lí cho học sinh trong trường phổ thông.
Bộ GD-ĐT (2018a). Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 ban hành Chương trình giáo dục phổ thông.
Bộ GD-ĐT (2018b). Thông tư số 33/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 hướng dẫn công tác xã hội trong trường học.
Bộ GD-ĐT (2019a). Kế hoạch số 588/KH-BGDĐT ngày 10/7/2019 về phòng, chống bạo lực học đường trong các cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục thường xuyên giai đoạn 2019-2021.
Bộ GD-ĐT (2019b). Chỉ thị số 993/CT-BGDĐT ngày 12/4/2019 về tăng cường giải pháp phòng, chống bạo lực học đường trong cơ sở giáo dục.
Nguyễn Thị Hiền (2024). Nghiên cứu về các mô hình phòng chống bạo lực học đường ở Việt Nam và trên thế giới. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 20(02), 74-80. https://doi.org/10.15625/2615-8957/12410212
Quốc hội (2019). Luật Giáo dục số 43/2019/QH14.
Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 03/10/2018 phê duyệt Đề án “Xây dựng văn hóa ứng xử trong trường học giai đoạn 2018-2025”.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 1895/QĐ-TTg ngày 11/11/2021 phê duyệt Chương trình tăng cường giáo dục lí tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống và khơi dậy khát vọng cống hiến cho thanh thiếu niên, nhi đồng giai đoạn 2021-2030.
World Health Organization (WHO) (2019). School-based violence prevention: A practical handbook. World Health Organization.
World Health Organization (WHO) (2019). Báo cáo Khảo sát hành vi sức khỏe học sinh toàn cầu tại Việt Nam năm 2019.