Thứ Sáu , 27/02/2026 , 11:05:38 GMT+7

Nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho các viện nghiên cứu, trường đại học trong thời đại công nghệ

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Tư, 07/01/2026, 21:10:00 GMT+7

Trong bối cảnh khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành động lực then chốt của tăng trưởng, việc nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho các viện nghiên cứu, trường đại học không còn là yêu cầu nội tại của giáo dục đại học, mà đang trở thành vấn đề chiến lược phát triển của quốc gia.

Trong kỷ nguyên tri thức, đại học không chỉ là nơi truyền thụ kiến thức, mà được xác định là trung tâm sản sinh tri thức mới, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Các quốc gia phát triển đều coi năng lực nghiên cứu của đại học là thước đo sức mạnh khoa học - công nghệ và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Tại Việt Nam, định hướng này đã được khẳng định nhất quán trong nhiều chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Gần đây nhất, Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập giai đoạn 2025-2030 vừa được Chính phủ phê duyệt ngày 27/12/2025 mở ra cơ hội quan trọng, song cũng đặt ra yêu cầu cấp thiết về cải cách cơ chế, tầm nhìn và cách tổ chức nghiên cứu trong hệ thống đại học Việt Nam.

Mục tiêu chiến lược giai đoạn 2025-2030

Chương trình hướng đến mục tiêu cụ thể cho các tổ chức nghiên cứu công lập bao gồm viện hàm lâm, viện, trung tâm nghiên cứu và các cơ sở giáo dục đại học công lập trọng điểm về kỹ thuật, công nghệ. Đến năm 2030, Chương trình đặt mục tiêu phát triển 5 tổ chức nghiên cứu cơ bản xuất sắc trong các lĩnh vực như Toán học, Vật lý, Sinh học, Khoa học vật liệu và Khoa học Trái đất vào nhóm 30% tổ chức hàng đầu theo các chuẩn mực quốc tế như SCImago Institutions Ranking (SIR) hoặc tương đương; 7-10 tổ chức nghiên cứu khoa học kỹ thuật và công nghệ đạt vị thế dẫn dắt trong nghiên cứu, phát triển công nghệ nền tảng, công nghệ chiến lược; 4 tổ chức nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn xuất sắc, đóng vai trò tư vấn chiến lược, phục vụ hoạch định chính sách. Đây là mục tiêu mang tính đột phá, không chỉ khẳng định năng lực nội lực mà còn góp phần nâng cao vị thế của khoa học Việt Nam trong khu vực và trên thế giới.

Ngoài ra, Chương trình cũng đặt mục tiêu xây dựng đội ngũ nghiên cứu chất lượng cao, tập trung vào phát triển con người. Một tổ chức được triển khai nâng cao năng lực phải thu hút ít nhất 70 lượt chuyên gia, nhà khoa học uy tín trong nước và quốc tế; đồng thời xây dựng và duy trì đội ngũ ít nhất 30 nghiên cứu viên (không bao gồm viên chức nghiên cứu hưởng lương từ ngân sách nhà nước), trong đó tối thiểu 15% là người Việt Nam ở nước ngoài hoặc chuyên gia quốc tế. Chương trình cũng đề cập tới việc duy trì một diễn đàn khoa học hoặc hội thảo thường niên có uy tín trong khu vực và quốc tế. Việc thu hút và giữ chân nhân tài, nhất là trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu như hiện nay là điều kiện tiên quyết để các viện, đại học nâng cao năng lực nghiên cứu một cách bền vững.

Thách thức trong việc nâng cao năng lực nghiên cứu

Dù các văn bản chiến lược gần đây đã khẳng định vai trò của trường đại học là trung tâm nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, song nhiều cơ sở giáo dục đại học hiện nay vẫn vận hành theo mô hình thiên về giảng dạy, hoạt động nghiên cứu khoa học chưa trở thành trụ cột thực sự trong chiến lược phát triển của nhà trường. Trong khi đó, Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập giai đoạn 2025-2030 đặt mục tiêu số lượng bài báo khoa học được công bố trên tạp chí khoa học quốc tế thuộc danh mục Web of Science/Scopus/Scimago Q1, Q2 của mỗi tổ chức tăng trung bình 12%. Tới năm 2030, hiệu suất công bố đạt tối thiểu 1,1 bài báo quốc tế uy tín/tiến sĩ/năm.

Tạp chí Giáo dục đã có một số bài viết về vấn đề này. Trong đó, các chuyên gia nhận định, để các chủ trương lớn như Nghị quyết 57-NQ/TW đi vào đời sống học thuật, không thể trông chờ vào nỗ lực đơn lẻ của từng nhà khoa học, mà cần một hệ thống chính sách đủ mạnh, đủ bền bỉ và nhất quán trong dài hạn. Việc ban hành nhiều nghị quyết, kết luận trong thời gian qua cho thấy quyết tâm chính trị rõ ràng, song mức độ chuyển hóa thành thay đổi thực chất trong các trường đại học vẫn còn hạn chế.

Một nghịch lý đang tồn tại là số lượng công bố quốc tế của các trường đại học Việt Nam tăng nhanh, nhưng chưa phản ánh đầy đủ nội lực nghiên cứu. Áp lực từ các bảng xếp hạng quốc tế khiến không ít cơ sở chạy theo chỉ số, trong khi giá trị cốt lõi của nghiên cứu khoa học nằm ở phát hiện mới, đóng góp tri thức và tác động dài hạn tới xã hội.

Tạp chí giáo dục
Hoạt động nghiên cứu khoa học tại Trường Đại học Quốc tế - Đại Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (Nguồn: website Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Ba điểm nghẽn lớn trong phát triển nghiên cứu khoa học đại học

Từ thực tiễn quản lý đại học, các chuyên gia chỉ ra ba điểm nghẽn căn bản đang cản trở năng lực nghiên cứu trong các trường đại học hiện nay.

Thứ nhất là nguồn lực tài chính. Dù đã có quy định yêu cầu các trường đại học có đào tạo tiến sĩ phải bảo đảm tỷ trọng thu từ khoa học - công nghệ tối thiểu 5% tổng thu, nhưng trên thực tế, đây chủ yếu vẫn là sự điều tiết nội bộ. Nguồn đầu tư từ bên ngoài, đặc biệt là từ ngân sách nhà nước cho nghiên cứu cơ bản, vẫn chưa tương xứng với mục tiêu chiến lược dài hạn. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu chi 2% GDP cho khoa học và công nghệ, việc tăng đầu tư cho nghiên cứu trong trường đại học là điều kiện tiên quyết.

Thứ hai là động lực cho đội ngũ giảng viên - nhà khoa học. Nghiên cứu khoa học đòi hỏi sự dấn thân cá nhân cao, nhưng cơ chế hiện hành chưa tạo được phần thưởng tương xứng. Khi giảng viên dành thời gian cho nghiên cứu, nhà trường phải gánh thêm chi phí giảng dạy thay thế, quản lý đề tài, quyết toán tài chính… trong khi kinh phí hỗ trợ cho các khâu này còn rất hạn chế. Điều này khiến cả nhà trường lẫn nhà khoa học đều thiếu động lực theo đuổi nghiên cứu bài bản, dài hơi.

Thứ ba là tầm nhìn phát triển nghiên cứu. Nghiên cứu khoa học, đặc biệt là nghiên cứu cơ bản, không thể bị ép tiến độ theo năm hay nhiệm kỳ quản lý. Nhiều công trình có giá trị nền tảng trong các lĩnh vực như y sinh, khoa học xã hội, tâm lý học, giáo dục hay khoa học cơ bản cần 5-10 năm, thậm chí lâu hơn để cho ra kết quả. Nếu không chấp nhận rủi ro, thất bại và độ trễ của nghiên cứu, hệ thống sẽ chỉ sản sinh ra những kết quả ngắn hạn, thiếu chiều sâu.

Phân tách chức năng để hình thành hệ sinh thái nghiên cứu lành mạnh

Một gợi mở quan trọng từ thực tiễn được các chuyên gia giáo dục chỉ ra là cần phân tách rõ hơn vai trò giữa viện nghiên cứu và trường đại học. Các trường đại học nên tập trung mạnh vào nghiên cứu cơ bản - nơi nuôi dưỡng tư duy khoa học, đào tạo nhân lực chất lượng cao và tạo ra các phát hiện nền tảng. Trong khi đó, nhiệm vụ phát triển công nghệ, sản phẩm ứng dụng quy mô lớn nên được giao cho các viện nghiên cứu chuyên sâu hoặc các trung tâm R&D gắn với doanh nghiệp.

Cách tiếp cận này không làm giảm vai trò của đại học, mà ngược lại, giúp đại học phát huy đúng thế mạnh: kết hợp nghiên cứu cơ bản với đào tạo, nâng cao chất lượng học thuật và năng lực tư duy chiến lược của nguồn nhân lực quốc gia. Đầu tư cho nghiên cứu cơ bản trong trường đại học không chỉ là đầu tư cho khoa học, mà là đầu tư cho năng lực phát triển dài hạn của đất nước

Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ công lập giai đoạn 2025–2030 là bước tiến quan trọng về mặt chính sách. Tuy nhiên, để chương trình này thực sự tạo ra chuyển biến, cần một cách tiếp cận sâu hơn đối với hệ thống đại học: coi nghiên cứu khoa học là nhiệm vụ cốt lõi, được bảo đảm bằng cơ chế tài chính dài hạn, quyền tự chủ thực chất và một tầm nhìn vượt qua nhiệm kỳ.

Trong thời đại công nghệ biến đổi nhanh, đại học Việt Nam cần trở thành nơi sản sinh tri thức mới, dám đi đường dài và chấp nhận những thành quả không đến ngay lập tức. Đó cũng là thước đo thực chất nhất của năng lực nghiên cứu khoa học quốc gia.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận