Thứ Bảy , 10/10/2026 , 01:52:27 GMT+7

Phát huy nguồn lực xã hội để nâng cao chất lượng giáo dục

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Sáu, 09/10/2026, 07:20:37 GMT+7

Xã hội hoá giáo dục đã tạo thêm nguồn lực cho hệ thống, mở rộng mạng lưới cơ sở giáo dục ngoài công lập và góp phần giảm áp lực đầu tư từ ngân sách. Sự phát triển giữa các cấp học, địa bàn đặt ra yêu cầu xã hội hoá cần đi sâu vào chất lượng, công bằng trong tiếp cận và sự tham gia thực chất của xã hội vào quá trình phát triển giáo dục.

Nguồn lực xã hội đã trở thành một phần quan trọng của hệ thống giáo dục

Sau nhiều năm thực hiện chủ trương xã hội hoá giáo dục, khu vực ngoài công lập đã trở thành một bộ phận quan trọng của hệ thống giáo dục Việt Nam. Từ những mô hình dân lập đầu tiên xuất hiện trong giai đoạn đầu đổi mới, đến nay, mạng lưới cơ sở giáo dục ngoài công lập đã hiện diện ở nhiều cấp học, cùng với sự tham gia của doanh nghiệp, tổ chức và các nhà đầu tư giáo dục.

Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, hiện cả nước có gần 4.200 cơ sở giáo dục ngoài công lập, chiếm 16,9% tổng số cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và đại học, vượt mục tiêu 13,5% được đặt ra tại Nghị quyết số 35 của Chính phủ. Nhìn lại quá trình phát triển, xã hội hóa giáo dục trước hết đã giải quyết một nhu cầu rất thực tế: huy động thêm nguồn lực trong bối cảnh ngân sách nhà nước không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư ngày càng lớn của giáo dục.

Ở giáo dục đại học, sự xuất hiện của mô hình ngoài công lập từ cuối những năm 1980 đã mở thêm một hướng phát triển mới. Trung tâm Đại học dân lập Thăng Long ra đời năm 1988 được xem là mô hình giáo dục đại học ngoài công lập đầu tiên ở Việt Nam. Sau đó, từ năm 1994, hệ thống các trường đại học ngoài công lập từng bước được mở rộng. Nghị quyết 05/2005/NQ-CP về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể thao tiếp tục tạo cơ sở chính sách quan trọng cho quá trình này.

Trong quá trình phát triển, Luật Giáo dục đại học cũng từng bước xác lập vị trí của các cơ sở tư thục, bao gồm cả mô hình hoạt động không vì lợi nhuận. Xã hội hóa giáo dục được định hướng là mở rộng sự tham gia của các chủ thể xã hội trong một hệ thống mà Nhà nước vẫn giữ vai trò quản lý và định hướng.

Thực tế những năm gần đây đã cho thấy những đóng góp của nguồn lực xã hội đối với giáo dục. Năm 2025, theo báo cáo của 28/34 tỉnh, thành phố, có 348 dự án xã hội hóa giáo dục với tổng vốn đầu tư trên 10.000 tỷ đồng. Nguồn lực xã hội hóa cũng góp phần kiên cố hóa khoảng 36.000 phòng học và 1.300 phòng công vụ giáo viên, với kinh phí quy đổi ước khoảng 33.000 tỷ đồng. Trong bối cảnh nhiều địa phương vẫn phải giải quyết tình trạng thiếu trường, thiếu lớp, áp lực dân số học đường và yêu cầu nâng cấp cơ sở vật chất, việc huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân có ý nghĩa thiết thực.

Đặc biệt, tại giáo dục đại học, khu vực ngoài công lập đang cho thấy khả năng thích ứng tương đối nhanh với những thay đổi của thị trường lao động. Một số trường tư thục đầu tư mạnh vào các lĩnh vực như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, thiết kế vi mạch, bán dẫn, công nghệ tài chính; đồng thời phát triển hệ sinh thái gắn trường đại học với nghiên cứu và doanh nghiệp. Đây là một trong những điểm khác biệt đáng chú ý so với cách tiếp cận xã hội hóa chỉ tập trung vào mở rộng mạng lưới trường lớp.

Khu vực ngoài công lập đang bắt đầu tham gia sâu hơn vào bài toán nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh Việt Nam đặt yêu cầu phát triển nhân lực chất lượng cao cho các ngành công nghệ chiến lược, nguồn lực xã hội đóng vai trò quan trọng.

Tạp chí giáo dục
Khu vực giáo dục ngoài công lập đang bắt đầu tham gia sâu hơn vào bài toán nguồn nhân lực, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo (Nguồn: Đại học Phenikaa)

Xã hội hóa giáo dục cần đi vào chiều sâu

Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gần 4.200 cơ sở ngoài công lập hiện chiếm 16,9% tổng số cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông và đại học, nhưng người học ngoài công lập mới chiếm 8,6%, chỉ hơn một nửa mục tiêu 16%. Đáng chú ý, tỷ lệ ngoài công lập còn rất thấp ở cấp tiểu học, trung học cơ sở và tại các địa bàn khó khăn.

Điều này cho thấy thị trường giáo dục và nhu cầu xã hội hóa không phân bố đồng đều. Những khu vực có dân số đông, sức mua cao, nhu cầu dịch vụ giáo dục lớn thường có khả năng thu hút đầu tư tốt hơn. Ngược lại, những địa bàn khó khăn, vùng xa, nơi nhu cầu xã hội về trường lớp và dịch vụ giáo dục có thể rất lớn nhưng khả năng hoàn vốn thấp, lại khó thu hút nhà đầu tư. Như vậy, nguồn lực xã hội hóa còn tập trung chủ yếu tại đô thị và những phân khúc thuận lợi. Nếu không có cơ chế điều tiết phù hợp, xã hội hóa có nguy cơ phát triển mạnh ở nơi đã có điều kiện tốt, trong khi những nơi cần thêm nguồn lực nhất lại khó tiếp cận đầu tư. Trong khi bản chất của xã hội hóa là huy động nguồn lực, trí tuệ, công nghệ, kinh nghiệm quản trị và sự tham gia của toàn xã hội để cùng phát triển giáo dục.

Một số trường tư thục đã chứng minh khả năng huy động vốn, đầu tư cơ sở vật chất, mở ngành đào tạo mới, hợp tác với doanh nghiệp và đầu tư cho nghiên cứu. Tuy nhiên, để khu vực này phát triển bền vững, chính sách cần tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn về đất đai, tín dụng, nghiên cứu khoa học và các chương trình hỗ trợ của Nhà nước. Điều quan trọng hơn là phải đánh giá cơ sở giáo dục bằng chất lượng và năng lực thực tế thay vì chỉ dựa trên loại hình công lập hay ngoài công lập. Khi chuẩn chất lượng, trách nhiệm giải trình và quyền lợi người học được đặt ở vị trí trung tâm, sự cạnh tranh giữa các cơ sở giáo dục có thể trở thành động lực cải thiện chất lượng toàn hệ thống.

Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1255/QĐ-TTg ngày 10/7/2026 về danh mục các loại hình, tiêu chí quy mô và tiêu chuẩn của cơ sở thực hiện xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo. Quyết định này là căn cứ để xác định những cơ sở đáp ứng điều kiện được hưởng chính sách khuyến khích phát triển xã hội hóa, thay thế các danh mục trước đây.

Đáng chú ý, tại cuộc làm việc ngày 02/10/2026 với doanh nghiệp giáo dục, Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ các điểm nghẽn về đất đai, thuế, tín dụng, thủ tục đầu tư, học phí, hỗ trợ người học và đội ngũ nhà giáo. Chính phủ cũng định hướng nghiên cứu cơ chế Nhà nước đặt hàng dịch vụ giáo dục đối với cơ sở ngoài công lập đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng tại những nơi khu vực công chưa đáp ứng đủ nhu cầu. Nhà nước có thể xác định rõ những dịch vụ giáo dục mà xã hội cần, những địa bàn còn thiếu và những lĩnh vực mà khu vực công chưa đáp ứng đủ, sau đó sử dụng cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ hoặc hỗ trợ phù hợp để huy động khu vực ngoài công lập tham gia.

Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh hệ thống giáo dục công lập đang được sắp xếp lại. Việc sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục công lập được đặt trong yêu cầu tinh gọn, nhưng đồng thời phải bảo đảm thuận lợi cho người học và nâng cao chất lượng giáo dục. Trong quá trình đó, khu vực ngoài công lập có thể trở thành một lực lượng bổ sung, nhất là ở những nơi nhu cầu trường lớp tăng nhanh nhưng đầu tư công chưa thể đáp ứng ngay.

Tuy nhiên, xã hội hóa càng mở rộng thì yêu cầu quản lý càng phải chặt chẽ. Cơ sở ngoài công lập phải công khai học phí, minh bạch tài chính, cam kết chất lượng đầu ra và có trách nhiệm giải trình trước người học, phụ huynh và xã hội. Đây cũng là yêu cầu được đặt ra tại cuộc làm việc của Chính phủ với các doanh nghiệp giáo dục mới đây.

Trên thế giới, giáo dục ngoài công lập không phải là mô hình mới. Nhiều trường đại học hàng đầu thế giới như Massachusetts Institute of Technology, Stanford University, Harvard University, Yale University hay Princeton University đều là các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Thành công của các trường này cho thấy khu vực ngoài công lập hoàn toàn có thể trở thành trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo nếu được vận hành theo cơ chế phù hợp.

Từ một chủ trương nhằm huy động nguồn lực ngoài ngân sách, xã hội hóa giáo dục đang đứng trước yêu cầu phát triển mới. Nguồn lực xã hội cần được đưa sâu hơn vào nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực và kết nối giáo dục với nhu cầu của nền kinh tế. Nếu làm được điều đó, khu vực công lập và ngoài công lập sẽ trở thành hai thành phần cùng đóng góp cho một hệ thống giáo dục thống nhất, tạo thêm năng lực mới cho giáo dục Việt Nam và mở rộng cơ hội học tập có chất lượng cho người dân.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận