Thứ Năm , 26/03/2026 , 10:11:18 GMT+7

Phát triển các hoạt động đổi mới sáng tạo trên nền tảng giáo dục số

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Ba, 03/03/2026, 09:29:54 GMT+7

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ công nghệ số, chuyển đổi số quốc gia đặt giáo dục Việt Nam trước yêu cầu đổi mới mang tính đột phá, không chỉ về công nghệ mà cả tư duy phát triển. Thực tế cho thấy, nếu thiếu một hệ sinh thái giáo dục số đồng bộ, bền vững và có khả năng kết nối các chủ thể, đổi mới sáng tạo sẽ khó tạo ra sức bật ở tầm quốc gia. Từ góc nhìn này, GS.TS. Trần Trung nhấn mạnh việc xây dựng hệ sinh thái giáo dục số – nơi công nghệ, con người và các mối quan hệ vận hành như một chỉnh thể. Đồng thời, điều này cũng chính là nền tảng để Việt Nam tận dụng lợi thế cạnh tranh, vượt qua thách thức và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Đổi mới giáo dục trong bối cảnh chuyển đổi số ở nước ta hiện nay

Theo GS.TS. Trần Trung, đổi mới giáo dục ở nước ta diễn ra trong bối cảnh hoạt động chuyển đổi số quốc gia, kinh tế số, xã hội số đạt được nhiều kết quả tích cực, lan tỏa sâu rộng đến mọi mặt kinh tế, xã hội, văn hóa; tác động đến từng doanh nghiệp, từng người dân, làm thay đổi quan niệm kinh doanh, thói quen, hành vi tiêu dùng, sinh hoạt, học tập, làm việc; được cộng đồng quốc tế đánh giá cao. Từ tháng 10/2024, Việt Nam đã chính thức thương mại hóa dịch vụ viễn thông 5G. Đây là cơ hội lớn để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và dữ liệu số vào tất cả các ngành, lĩnh vực; ứng dụng hiệu quả các công nghệ mới hiện đại như trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây, Internet vạn vật, thực tế ảo, thực tế tăng cường nhằm thúc đẩy kinh tế số, xã hội số phát triển.

GS.TS. Trần Trung. Nguồn: Học viện Dân tộc

"Cần có mô hình đột phá phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho đổi mới giáo dục, chuyển đổi số và khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo."

Đến 31/12/2024, Việt Nam có trên 1,5 triệu lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp; số cơ sở đào tạo toàn quốc là 168 trường đại học và 520 trường nghề có đào tạo về công nghệ thông tin, điện tử viễn thông.

Ngành công nghệ thông tin cũng là ngành kỹ thuật có số chỉ tiêu tuyển sinh cao nhất, thu hút được nhiều sinh viên tuyển sinh nhất, với tổng chỉ tiêu tuyển sinh xấp xỉ 100.000 chỉ tiêu.

Tổng nhân lực công nghệ thông tin hiện nay ước đạt 561.000, chiếm 1,1% trên tổng số lao động.

Hỗ trợ các bộ, ngành, địa phương sử dụng miễn phí nền tảng và bài giảng, học liệu để chủ động biên tập, biên soạn và bồi dưỡng, tập huấn cho 287.000 cán bộ công chức, viên chức và người lao động của cơ quan, địa phương mình (tăng 105% so với năm 2023).

Thực hiện phổ cập kỹ năng số và kỹ năng an toàn thông tin cho người dân trên nền tảng với gần 40 triệu lượt truy cập nền tảng tham gia khóa học (tăng 17 triệu lượt truy cập so với năm 2023).

Theo quyết định số 1705/QĐ-TTg được ban hành ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã xác định mục tiêu phát triển giáo dục Việt Nam nhằm đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và các tiến bộ mới nhất của khoa học và công nghệ: Phát triển hệ thống giáo dục mở, đảm bảo công bằng và bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, phục vụ học tập suốt đời, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa, hội nhập quốc tế; đến năm 2030, giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á và đến năm 2045 đạt trình độ tiên tiến của thế giới.

Đồng thời, nhấn mạnh giải pháp thực hiện các mục tiêu Chiến lược thông qua phát triển hệ thống giáo dục theo hướng mở; linh hoạt, đa dạng hóa các mô hình đào tạo, chương trình giáo dục, phương thức học tập, ứng dụng công nghệ, chuyển đổi số trong giáo dục để phù hợp với mọi đối tượng người học; thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông hướng đến phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực từng cá nhân người học; đẩy mạnh phương thức giáo dục tích hợp Khoa học, Kỹ thuật, Công nghệ, Toán học (STEM) và nghiên cứu khoa học trong trường phổ thông.

Bên cạnh đó, tăng cường các nguồn lực đầu tư để nâng cao chất lượng giáo dục đại học, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực, chú trọng đào tạo nguồn nhân lực các ngành đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế tri thức, kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, nhất là các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật, công nghệ và các ngành mới như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, bán dẫn...

Theo GS.TS.Trần Trung, chuyển đổi số trong giáo dục cần tập trung tận dụng tiến bộ công nghệ để thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong dạy học, nâng cao chất lượng và cơ hội tiếp cận giáo dục, hiệu quả quản lý giáo dục; xây dựng nền giáo dục mở thích ứng trên nền tảng số, góp phần phát triển Chính phủ số, kinh tế số và xã hội số như: xây dựng hạ tầng công nghệ giáo dục số đồng bộ; phát triển tài nguyên giáo dục số mở và chất lượng cao; nâng cao năng lực số cho đội ngũ giáo viên và người học; tạo môi trường thể chế và chính sách hỗ trợ; thúc đẩy nghiên cứu và ứng dụng công nghệ số trong giáo dục.

Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển nhanh chóng của công nghệ số giúp hình thành hệ sinh thái giáo dục số đã trở thành một yếu tố then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người học. Hệ sinh thái giáo dục số đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa chính sách, hạ tầng, nguồn lực và công nghệ là cần thiết trong xây dựng một nền giáo dục bền vững và linh hoạt. Việc phát triển hệ sinh thái giáo dục số không chỉ đến từ việc áp dụng hệ thống công nghệ mới, mà còn từ sự chú trọng vào việc đào tạo giáo viên, phát triển nội dung học liệu và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ giữa các bên liên quan trong giáo dục và sự tham gia của cộng đồng và doanh nghiệp trong việc phát triển hệ sinh thái giáo dục số.

Cấu trúc và các đặc tính của hệ sinh thái giáo dục số

Trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã và đang đầu tư mạnh mẽ vào phát triển hệ sinh thái giáo dục số nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, mở rộng cơ hội học tập và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Một hệ sinh thái giáo dục số bền vững phải tích hợp được cả công nghệ, chính sách và năng lực số của người dạy và người học. Bên cạnh việc đầu tư vào hạ tầng số, nhiều quốc gia cũng đang ứng dụng AI và Big Data để nâng cao chất lượng giáo dục. Ngoài ra, xu hướng phát triển mô hình “trường học thông minh” (Smart Schools) đang ngày càng phổ biến trên thế giới. Một điểm đáng chú ý khác là sự mở rộng của giáo dục mở và học tập suốt đời. Nhìn chung, giáo dục số trên thế giới đang hướng tới việc xây dựng một hệ sinh thái toàn diện, không chỉ dựa vào công nghệ mà còn kết hợp với chính sách, tài nguyên và năng lực số của các bên liên quan. Đây là xu hướng tất yếu giúp nâng cao chất lượng giáo dục, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao cho tương lai.

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong giáo dục đã có những bước tiến đáng kể, tuy nhiên vẫn còn nhiều thách thức cần giải quyết để tạo ra sự đột phá thực sự. Một thách thức lớn hiện nay là sự đồng bộ trong triển khai giữa các địa phương. Ở các thành phố lớn, việc áp dụng công nghệ số diễn ra khá thuận lợi, nhưng ở các vùng nông thôn, miền núi, điều kiện cơ sở hạ tầng và thiết bị vẫn còn hạn chế, gây ra khoảng cách trong tiếp cận giáo dục số. Mặc dù một số trường đại học lớn tại Việt Nam đã bắt đầu ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong quản lý học tập, chấm điểm tự động và tư vấn hướng nghiệp, nhưng nhìn chung, việc áp dụng AI trong cá nhân hóa học tập vẫn chưa phổ biến. So với các nước tiên tiến, Việt Nam vẫn chưa khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu lớn trong việc phân tích và cải thiện quá trình học tập của học sinh. Bên cạnh đó, đổi mới sáng tạo trong giáo dục vẫn gặp nhiều rào cản. Một số yếu tố như tư duy quản lý giáo dục truyền thống, thiếu cơ sở dữ liệu giáo dục liên thông, sự chậm thích ứng của giáo viên với công nghệ số và hạn chế trong đầu tư hạ tầng số ở các vùng khó khăn vẫn là những trở ngại lớn.

Kiến trúc hệ sinh thái giáo dục số đã được một số học giả trên thế giới đề cập đến với những cách tiếp cận khác nhau như: hệ sinh thái học tập số (digital learning ecosystem), hệ sinh thái học trực tuyến (e-learning ecosystem), hệ sinh thái học tập (learning ecosystem), hệ sinh thái kỹ thuật số (digital ecosystem), hệ sinh thái giáo dục kỹ thuật số (digital educational ecosystem) và hệ sinh thái dạy và học (learning and teaching ecosystem)...

Nói chung, xây dựng hệ sinh thái giáo dục số là kiến tạo môi trường kết nối bền vững các bên liên quan tham gia vào cả quá trình giáo dục, được tương tác với các tiện ích học tập ứng dụng công nghệ số, nền tảng số, môi trường số, thích ứng số. Nhiều tính năng nổi bật của hệ sinh thái giáo dục số như cá nhân hóa học tập, kết nối số, hệ thống tài nguyên giáo dục mở và phong phú.

Hệ sinh thái giáo dục số có các đặc điểm nhất định như: cơ sở hạ tầng số mạnh vượt ra ngoài phạm vi của một cá nhân, tổ chức; hệ thống tương tác cộng đồng và hỗ trợ nhau để tồn tại; chứa đựng tài nguyên phong phú phục vụ hỗ trợ hoạt động tạo giá trị cho những người tham gia; sử dụng các hình thức tương tác số mới cung cấp các dịch vụ kỹ thuật số; mang tính kết nối cao, có sự kết hợp giữa năng lực cung cấp, con người và hệ thống thông tin tiên tiến trong hệ sinh thái kỹ thuật số, tạo điều kiện cho sự tương tác chặt chẽ giữa những người tham gia và hỗ trợ các nhu cầu khác nhau trong hệ sinh thái. Như vậy, có thể thấy hệ sinh thái giáo dục số không bị giới hạn về địa lý, có nhiều giải pháp cho các cơ sở giáo dục tăng cường khả năng học tập cho người học và cá nhân hóa nhu cầu học tập. Hệ sinh thái giáo dục số cung cấp các công cụ trí tuệ nhân tạo tiên tiến và tùy biến cho phép thực hiện các công tác theo dõi, giám sát, quản lý, đánh giá và tương tác, giao tiếp trên môi trường điện toán đám mây, từ đó tập trung phát triển được cộng đồng học tập hay xã hội học tập.

Hệ sinh thái giáo dục số: Định hướng nghiên cứu đổi mới sáng tạo

Theo GS.TS. Trần Trung, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã biến đổi mới sáng tạo trở thành động lực mới cho phát triển nhanh và bền vững. Trong quá trình đó, đổi mới sáng tạo truyền cảm hứng cho các hành động cũng như các công nghệ số để đổi mới giáo dục, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người. Trên thế giới, hệ sinh thái giáo dục số đã được triển khai rộng rãi tại nhiều quốc gia nhằm nâng cao chất lượng giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập linh hoạt, giúp kết nối giáo viên, học sinh và phụ huynh trong một môi trường số hóa toàn diện. Chiến lược đổi mới quản trị giáo dục và phát triển giáo dục số đã trở thành một chủ đề chiến lược rất quan trọng ở hầu hết các quốc gia đã phát triển. Có thể xác định một số định hướng nghiên cứu nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo theo tiếp cận hệ sinh thái giáo dục số như sau:

Nghiên cứu mô hình cấu trúc hệ sinh thái giáo dục số thích ứng với công nghệ số, hướng tới trường học số, kinh tế số, xã hội và công dân số

Hệ sinh thái giáo dục số thích ứng kỷ nguyên công nghệ. Ảnh: Báo Thanh niên

Làm rõ cấu trúc, các thành phần và mối quan hệ tương tác, cùng các yếu tố thúc đẩy và rào cản phát triển. Trên cơ sở đó, xây dựng khung tham chiếu, tiêu chí đánh giá và tiêu chuẩn năng lực số cho cán bộ quản lý, giáo viên, người học; phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng về dạy học, phân tích dữ liệu, bảo mật thông tin; đánh giá mức độ sẵn sàng và hiệu quả ứng dụng công nghệ, đồng thời xem xét tác động dài hạn của hệ sinh thái giáo dục số đối với chất lượng đào tạo, năng lực cá nhân và phát triển kinh tế – xã hội.

Nghiên cứu cơ sở lý luận, phương pháp và công nghệ giáo dục theo tiếp cận phát triển năng lực, cá thể hóa người học trong hệ sinh thái giáo dục số

Đổi mới phương pháp dạy học trong hệ sinh thái giáo dục số. Ảnh: Báo Nhân dân

Làm rõ mô hình, lý thuyết dạy học và vai trò của công nghệ số trong dạy học, nghiên cứu, quản lý và tác động đến thể chế giáo dục. Phân tích các nền tảng giáo dục số, thiết kế trải nghiệm học tập, phát triển công cụ phân tích học tập; ứng dụng các công nghệ hỗ trợ như AI, IoT, Cloud, Blockchain, Big Data nhằm cá nhân hóa, đồng bộ dữ liệu, đánh giá và quản trị. Trên cơ sở đó, thiết kế kiến trúc hạ tầng bảo mật, linh hoạt, lựa chọn và tích hợp giải pháp phù hợp với bối cảnh địa phương, đồng thời xây dựng lộ trình công nghệ để triển khai hiệu quả, tránh chồng chéo và lãng phí nguồn lực.

Nghiên cứu ứng dụng khoa học tâm lý trong hệ sinh thái giáo dục số nhằm tạo đột phá đổi mới sáng tạo

Khoa học tâm lý trong hệ sinh thái giáo dục số. Nguồn: VNU

Tập trung phân tích tác động của mạng xã hội và công nghệ số đến nhận thức, hành vi, sức khỏe tâm thần và khả năng thích ứng của con người trong học tập, lao động. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp nâng cao đánh giá, chẩn đoán, can thiệp rối loạn phát triển thần kinh; định hướng học tập, nghề nghiệp trong bối cảnh AI; phát triển năng lực sử dụng công nghệ số của người học và người dạy. Phát triển các ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong hệ sinh thái giáo dục số để hỗ trợ sàng lọc, chẩn đoán, điều trị các rối loạn tâm thần góp phần đổi mới sáng tạo bền vững.

Nghiên cứu thiết chế chính sách và mô hình quản lý, quản trị đổi mới sáng tạo trong giáo dục ở cả cấp vĩ mô và vi mô theo hướng hội nhập quốc tế, nhằm kết nối chuỗi giá trị trong hệ sinh thái giáo dục số

Chính sách giáo dục số, đổi mới sáng tạo hướng tới hội nhập. Ảnh: Báo Nhân dân

Trọng tâm là cơ chế và quy trình quản trị đổi mới sáng tạo, năng lực quản trị số, thiết kế chính sách và khung đánh giá cho chuyển đổi số, hợp tác và nghiên cứu liên ngành; thúc đẩy hợp tác công – tư, mô hình đa bên, phát triển EdTech và cơ chế đầu tư, chia sẻ lợi ích. Đồng thời, chú trọng bảo đảm công bằng, bao trùm trong tiếp cận hệ sinh thái giáo dục số thông qua mở rộng cơ hội học tập suốt đời, chia sẻ tài nguyên giáo dục mở, thu hẹp khoảng cách số, đặc biệt với các nhóm yếu thế và vùng sâu, vùng xa.

Nghiên cứu đo lường, trắc lượng và tích hợp các chỉ số xếp hạng quốc tế nhằm đánh giá hiệu suất giáo dục và năng lực đổi mới sáng tạo của Việt Nam trong so sánh khu vực và toàn cầu.

Đo lường giáo dục và đổi mới sáng tạo Việt Nam qua các bảng xếp hạng quốc tế. Ảnh: Tạp chí KH&CN Việt Nam

Trọng tâm là ứng dụng khoa học thần kinh và tâm lý học nhận thức trong giáo dục, quản lý; phân tích quá trình nhận thức, hình thành năng lực và văn hóa học đường trong môi trường giáo dục số; phát triển các phương pháp và bộ chỉ số đánh giá mới về năng lực, đổi mới sáng tạo, hiệu quả ứng dụng công nghệ và hợp tác. Đồng thời, khai thác dữ liệu lớn để theo dõi, dự báo xu hướng học tập và nhu cầu thị trường, làm rõ các yếu tố tâm lý – xã hội ảnh hưởng đến hành vi học tập, năng suất lao động, sức khỏe, mức độ căng thẳng và kiệt sức của người dạy trong bối cảnh số hóa.


Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ lượng tử, tự động hóa… đang tác động sâu rộng, làm thay đổi toàn diện phương thức sống và làm việc của con người trên toàn cầu. Khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo và chuyển đổi số trở thành động lực then chốt quyết định năng lực phát triển quốc gia, thúc đẩy các mô hình kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo như kinh tế số, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh theo tiếp cận hệ sinh thái bền vững. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đạt nhiều thành tựu quan trọng, song để thực hiện Chiến lược phát triển giai đoạn 2021–2030, hướng tới các mốc phát triển lịch sử của đất nước, cần tạo đột phá, trong đó phát triển giáo dục, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là con đường tất yếu để bứt phá, rút ngắn khoảng cách với các quốc gia phát triển. Việc kiến tạo hệ sinh thái giáo dục số là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy lợi thế cạnh tranh, vượt qua thách thức và hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, GS.TS. Trần Trung chia sẻ.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận