Thứ Sáu , 29/05/2026 , 02:48:49 GMT+7

Tăng cường xây dựng khung hoạt động tài chính cho giáo dục - đào tạo

Model?.data?.author?.Name
Nguyễn Minh

Biên tập viên

Thứ Sáu, 15/05/2026, 07:33:47 GMT+7

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) mới đây đã tham mưu và dự thảo trình Chính phủ Nghị định ban hành Quy chế tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia và Nghị định quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Đây là những văn bản khung, tạo nền tảng pháp lý cho hoạt động tài chính nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong thời gian dài hạn

Quỹ học bổng Quốc gia: công cụ hỗ trợ người học hiệu quả, tập trung, gắn với kết quả đầu ra

Hiện nay, trên thực tế, hệ thống học bổng còn phân tán, nhiều chương trình chủ yếu mang tính ngắn hạn, chưa hình thành được cơ chế phát hiện sớm, bồi dưỡng liên tục và đầu tư có trọng tâm cho người học có tiềm năng; chưa có một đầu mối cấp quốc gia có đủ điều kiện pháp lý và tổ chức để điều phối, huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực học bổng từ ngân sách nhà nước và xã hội. Quỹ Học bổng Quốc gia không chỉ giải quyết những hạn chế hiện tại của hệ thống học bổng, mà còn góp phần thực hiện mục tiêu chiến lược về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.

Việc ban hành Nghị định để tổ chức, thiết lập Quỹ Học bổng Quốc gia với vai trò là công cụ chính sách cấp quốc gia, góp phần tạo đột phá trong phát hiện và bồi dưỡng nhân tài; hình thành cơ chế hỗ trợ người học theo lộ trình dài hạn, liên thông từ phổ thông đến sau đại học; huy động, điều phối và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực học bổng trong toàn hệ thống; tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và tránh trùng lặp chính sách.

Quy chế quy định về tổ chức, quản lý và sử dụng Quỹ học bổng Quốc gia bao gồm nhiều thành tố cấu thành quan trọng: địa vị pháp lý; mục tiêu, nguyên tắc hoạt động; cơ cấu tổ chức và quản trị; chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; chương trình, tiểu chương trình học bổng; đối tượng, điều kiện, mức hỗ trợ và quy trình xét, cấp, giải ngân, hậu kiểm; quản lý tài chính; cơ chế tiếp nhận tài trợ, đóng góp, ủy thác; giám sát, đánh giá hoạt động; công khai, minh bạch và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Quy định sẽ tập trung thiết lập một cơ chế học bổng hiện đại, minh bạch và có khả năng vận hành linh hoạt. Theo đó, Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận, có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng; các nguồn tài chính được quản lý, hạch toán, theo dõi riêng theo từng loại nguồn, bảo đảm công khai, minh bạch. Dự thảo cũng đặt ra nguyên tắc không trùng lặp chính sách, không cấp trùng cùng nội dung chi và cùng thời gian hỗ trợ với các học bổng từ ngân sách nhà nước. Hoạt động của Quỹ gắn với cơ chế giám sát, hậu kiểm, trách nhiệm giải trình, quản trị dữ liệu và chuyển đổi số.

Một điểm đáng chú ý là cơ chế huy động đa dạng nguồn lực. Ngân sách nhà nước đóng vai trò hỗ trợ khởi tạo theo dự toán được giao. Cùng với đó, Quỹ có thể huy động tài trợ, đồng tài trợ, ủy thác, đóng góp tự nguyện từ tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.

Theo những quy định mới, Quỹ học bổng tổ chức 5 chương trình học bổng bao gồm: học bổng tài năng; học bổng đi học tại nước ngoài; học bổng theo điều ước quốc tế, thỏa thuận quốc tế; học bổng thu hút người nước ngoài học tại Việt Nam; học bổng tạo cơ hội phát triển đối với người học thuộc các nhóm ưu tiên. Việc xét chọn học bổng được thực hiện trên cơ sở khung tiêu chí và thang điểm do Bộ GDĐT quy định cho từng chương trình, tiểu chương trình; bảo đảm khách quan, minh bạch, có cơ chế so sánh, xếp hạng giữa các ứng viên; phòng ngừa xung đột lợi ích và bảo đảm liêm chính trong đánh giá.

Đối với người học không thuộc diện ưu tiên, tiêu chuẩn xét chọn của Quỹ được thiết kế cao hơn, cạnh tranh hơn, đòi hỏi năng lực, thành tích và tiềm năng phát triển nổi trội. Đây được xem là điểm mới đáng chú ý, khi các học bổng hiện nay thường mang tính khuyến khích học tập, động viên theo từng năm học, thì Quỹ học bổng hướng tới đầu tư dài hạn cho phát triển con người từ phổ thông đến giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học.

Quỹ học bổng đóng vai trò điều phối, kết nối và nâng cao hiệu quả tổng thể của hệ thống; tạo cơ chế đồng tài trợ và ủy thác linh hoạt, cho phép huy động nguồn lực từ doanh nghiệp, cơ sở đào tạo, tổ chức quốc tế; đồng thời có chương trình thu hút người học quốc tế đến Việt Nam, góp phần nâng cao vị thế giáo dục Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Các chương trình học bổng được thiết kế theo hướng hỗ trợ thực chất, có chọn lọc, không dàn trải; gắn việc cấp học bổng với năng lực, thành tích, tiềm năng phát triển và kết quả đầu ra của người học. Về dài hạn, Quỹ Học bổng Quốc gia không chỉ là cơ chế hỗ trợ tài chính, mà còn là công cụ đầu tư cho nguồn vốn con người, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đổi mới cơ chế tài chính cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp

Cùng với Quỹ học bổng Quốc gia, Bộ GDĐT cũng tham mưu, dự thảo Nghị định quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian. Việc xây dựng Nghị định nhằm cụ thể hóa Nghị quyết số 248/2025/QH15 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội để thực hiện đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; đồng thời cụ thể hóa một số quy định về tự chủ, cơ chế tài chính đối với giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp tại Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) và Luật Giáo dục nghề nghiệp (sửa đổi) năm 2025.

Tạp chí giáo dục
Ngành Công nghệ thông tin - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cần có cơ chế đầu tư tài chính để nâng cấp cơ sở vật chất và chất lượng đào tạo. Ảnh: Thế Đại


Nghị định mới sẽ quy định nguyên tắc phân bổ ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp theo quy định tại Luật Giáo dục, pháp luật có liên quan và dựa trên sứ mạng, chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ sở giáo dục; quy định cụ thể về đối tượng, điều kiện, chính sách và mức hỗ trợ, học bổng đối với các nhóm người học: (1) Ngành đào tạo giáo viên, đào tạo tài năng; người học các ngành, nghề thuộc lĩnh vực năng khiếu nghệ thuật, thể thao; (2) Ngành đào tạo khoa học cơ bản, ngành, nghề đặc thù và ngành, nghề cần thiết cho phát triển đất nước nhưng khó thu hút người học; (3) Chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, các ngành, nghề kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, công nghệ lõi. Bên cạnh đó, nội dung Nghị định sẽ quy định về phương thức thực hiện các chính sách nêu trên; xác định học phí và mức trần học phí; quy định về đặt hàng, giao nhiệm vụ đào tạo, qua đó tạo cơ sở pháp lý để các chủ trương tại Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục đào tạo sớm đi vào cuộc sống.

Nghị định này nhấn mạnh về tăng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, quy định đầy đủ các khía cạnh tự chủ của cơ sở giáo dục không phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính, bao gồm: tự chủ về học thuật, chuyên môn; tự chủ về nghiên cứu khoa học; tự chủ về cơ cấu tổ chức, nhân sự; tự chủ về hợp tác quốc tế; tự chủ về tài chính, tài sản, đầu tư. Trong đó, người đứng đầu cơ sở giáo dục được toàn quyền quyết định việc sử dụng các nguồn tài chính đặt hàng hoặc giao nhiệm vụ để hoàn thành nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và phát triển cơ sở giáo dục. Các khoản chi này bao gồm: chi trả tiền lương, thuê chuyên gia, chi hoạt động chuyên môn, quản lý, dịch vụ, trả lãi vay (đối với phần chi từ vốn vay hợp pháp) và các khoản chi cần thiết khác phục vụ trực tiếp việc thực hiện nhiệm vụ. Việc chi tiêu phải tuân thủ nguyên tắc gắn với hiệu quả hoạt động, bảo đảm tiến độ, chất lượng; thực hiện công khai, minh bạch và được quy định trong Quy chế chi tiêu nội bộ. Bên cạnh đó, cơ sở giáo dục được phân loại “bảo đảm chi thường xuyên” hoặc “chưa tự bảo đảm chi thường xuyên” để đảm bảo nguồn lực đầu tư phát triển, đặc biệt đối với các ngành, lĩnh vực chiến lược, khoa học cơ bản và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao. Đồng thời, dự thảo Nghị định quy định trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục với người học và xã hội trong thực hiện các quyền tự chủ nêu trên.

Về đối tượng của Chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian, Nghị định mới sẽ áp dụng cho nghiên cứu sinh trúng tuyển theo học các chương trình đào tạo tiến sĩ tại các cơ sở giáo dục đại học trong nước, thuộc nhóm ngành, lĩnh vực của chương trình trọng điểm quốc gia do Thủ tướng quyết định; nghiên cứu sinh trúng tuyển theo học tại các cơ sở giáo dục đại học triển khai các đề án phát triển (cơ sở giáo dục trọng điểm, nhóm cơ sở giáo dục đại học hàng đầu châu Á). Chương trình được áp dụng đối với hình thức đào tạo chính quy, tập trung toàn thời gian; gắn đào tạo tiến sĩ với nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc triển khai thực hiện tại các cơ sở giáo dục đại học đáp ứng chuẩn cơ sở đào tạo trình độ tiến sĩ theo quy định hiện hành. Nghị định đề cập đến nguyên tắc hỗ trợ cho nghiên cứu sinh được thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước, khoa học công nghệ và các quy định liên quan. Đáng chú ý, nghiên cứu sinh không đồng thời hưởng chính sách hỗ trợ khác từ ngân sách nhà nước trong thời gian học tập, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Thông qua các chính sách nêu trên, Nghị định này được kỳ vọng tạo chuyển biến căn bản trong cơ chế quản trị, cơ chế tài chính và đầu tư cho giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; đảm bảo một cơ chế công khai, minh bạch, thống nhất trong toàn ngành. Đồng thời thúc đẩy các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp cạnh tranh lành mạnh trong việc thực hiện sứ mạng, nâng cao chất lượng và hiệu quả, năng suất đào tạo; tạo động lực phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững trong kỷ nguyên phát triển mới. Nghị định cũng tạo cơ sở pháp lý để thực hiện đổi mới căn bản cơ chế, chính sách tài chính và đầu tư cho giáo dục, đào tạo; phân bổ ngân sách nhà nước cho các cơ sở giáo dục đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp dựa trên sứ mạng, chất lượng và hiệu quả theo cơ chế thống nhất trong toàn ngành; ưu tiên đặt hàng, giao nhiệm vụ đối với các ngành, lĩnh vực trọng điểm theo kết quả đầu ra; đồng thời quy định về chương trình trọng điểm quốc gia đào tạo tiến sĩ toàn thời gian.

PV/BTV

Nguyễn Sơn Minh

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận