Thứ Sáu , 16/10/2026 , 13:24:43 GMT+7

Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp: Gắn kết đào tạo với việc làm bền vững

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Sáu, 16/10/2026, 09:20:41 GMT+7

Chuyển đổi số đang làm thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất, tổ chức lao động và phát triển nguồn nhân lực. Trong bối cảnh đó, giáo dục nghề nghiệp đứng trước yêu cầu đổi mới về công nghệ, phương pháp đào tạo, mô hình vận hành và quan hệ hợp tác với thị trường lao động. Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm trở thành định hướng quan trọng đối với quá trình đổi mới giáo dục nghề nghiệp tại Việt Nam.

Trong khuôn khổ Hội nghị quốc tế về Giáo dục trong kỷ nguyên số do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức, Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên chủ trì phiên hội thảo chuyên đề “Hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm”, với thông điệp “Chuyển đổi số hiệu quả - Đột phá đào tạo nghề - Đảm bảo sinh kế và việc làm bền vững cho người học”.

Phiên hội thảo là diễn đàn trao đổi kinh nghiệm quốc tế, chia sẻ mô hình thực tiễn và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực đáp ứng của giáo dục nghề nghiệp trước những thay đổi nhanh chóng của công nghệ, mô hình sản xuất và thị trường lao động. Qua đó, khẳng định yêu cầu chuyển đổi số không chỉ dừng lại ở ứng dụng công nghệ trong nhà trường, mà cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái kết nối chặt chẽ giữa đào tạo, phát triển kỹ năng và việc làm.

Chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp từ yêu cầu thực tiễn

Theo ông Trần Thanh Đạm - Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), chuyển đổi xanh và những thay đổi trong mô hình sản xuất đang tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức đối với thị trường lao động. Nhiều nghề nghiệp mới xuất hiện, trong khi yêu cầu kỹ năng của các công việc hiện có liên tục thay đổi, khiến một số kỹ năng có nguy cơ nhanh chóng trở nên lạc hậu.

Tạp chí giáo dục
Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên Trần Thanh Đạm
(Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đối với giáo dục nghề nghiệp không chỉ là đưa công nghệ vào hoạt động giảng dạy, mà còn phải nâng cao khả năng dự báo nhu cầu kỹ năng, cập nhật chương trình đào tạo và giúp người học chuyển hóa kiến thức, kỹ năng thành cơ hội việc làm và sinh kế bền vững.

Từ góc độ quốc tế, chuyển đổi số trong giáo dục nghề nghiệp đang chuyển dịch từ việc số hóa từng hoạt động riêng lẻ sang đổi mới toàn diện cách thức dự báo nhu cầu nhân lực, tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực và kết nối người học với thị trường lao động. Trong quá trình đó, dữ liệu, AI và các nền tảng số có thể hỗ trợ phân tích nhu cầu kỹ năng, theo dõi tiến trình học tập và cải thiện khả năng kết nối việc làm.

Đáng chú ý, công nghệ số không thay thế vai trò của nhà giáo mà cần được sử dụng để tăng cường năng lực giảng dạy, hỗ trợ người học và nâng cao chất lượng đào tạo. Đồng thời, doanh nghiệp cần chuyển từ vai trò tiếp nhận thực tập, tuyển dụng sau tốt nghiệp sang đối tác tham gia đồng kiến tạo kỹ năng, xây dựng chương trình, tổ chức thực hành và đánh giá kết quả đào tạo.

PGS.TS Vũ Thị Tú Anh - Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng cho rằng giáo dục nghề nghiệp không thể tiếp tục vận hành như một hệ thống đào tạo tách biệt với thị trường lao động. Khi công nghệ, chuỗi cung ứng và phương thức tổ chức công việc thay đổi nhanh chóng, sự chậm trễ trong cập nhật chương trình đào tạo sẽ làm gia tăng khoảng cách giữa năng lực của người học và yêu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Tạp chí giáo dục
Phó Cục trưởng Cục Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục thường xuyên Vũ Thị Tú Anh
(Ảnh: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Vì vậy, chuyển đổi số cần được tổ chức như một hệ sinh thái thống nhất, trong đó dữ liệu, nền tảng công nghệ, chương trình đào tạo, chuẩn năng lực, hoạt động thực hành và cơ chế công nhận kỹ năng được kết nối xuyên suốt. Mục tiêu là hình thành dòng chảy liên tục từ dự báo nhu cầu kỹ năng, thiết kế chương trình, tổ chức đào tạo, đánh giá năng lực, cấp chứng nhận đến thực tập, tuyển dụng, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng trong suốt quá trình làm việc.

Một trong những yếu tố cốt lõi của hệ sinh thái này là phát triển hạ tầng số và nền tảng dữ liệu dùng chung; cập nhật chương trình theo yêu cầu về kỹ năng số, AI và công nghệ mới; đổi mới phương pháp dạy học theo hướng linh hoạt, kết hợp trực tiếp, trực tuyến, mô phỏng và thực hành; đồng thời tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp và hợp tác quốc tế.

Đặc biệt, dữ liệu cần được xem là nền tảng kết nối các chủ thể trong hệ sinh thái. Dữ liệu về nhu cầu kỹ năng, vị trí việc làm, chuẩn nghề, xu hướng công nghệ, kết quả học tập và khả năng có việc làm sau đào tạo sẽ giúp cơ sở giáo dục cập nhật chương trình nhanh hơn, doanh nghiệp tham gia đào tạo có mục tiêu hơn, người học xác định rõ lộ trình nghề nghiệp và cơ quan quản lý hoạch định chính sách dựa trên bằng chứng. Bên cạnh đó, các công cụ như học liệu mở, thực tế ảo (VR), thực tế tăng cường (AR), mô hình bản sao số (Digital Twin), học bạ số, hồ sơ năng lực điện tử và chứng chỉ kỹ năng theo mô-đun có thể mở rộng cơ hội học tập, hỗ trợ đánh giá và công nhận năng lực linh hoạt hơn. Tuy nhiên, công nghệ chỉ phát huy giá trị khi được đặt trên nền tảng chuẩn đầu ra rõ ràng, quy trình đánh giá tin cậy và cơ chế bảo đảm chất lượng phù hợp.

Thông điệp xuyên suốt là hệ sinh thái giáo dục và hệ sinh thái việc làm cần gặp nhau ở năng lực của người học. Năng lực phải được hình thành thông qua đào tạo, ghi nhận và xác thực bằng những phương thức đáng tin cậy, đồng thời được doanh nghiệp và thị trường lao động sử dụng hiệu quả.

Phát huy vai trò của nhà nước, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục

Về phía nhà trường, bà Mish Eastman - Phó Hiệu trưởng phụ trách giáo dục nghề nghiệp, Đại học RMIT chia sẻ, năng lực hợp tác giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, cũng như khả năng phối hợp với doanh nghiệp, mạng lưới các cơ sở đào tạo nghề và cơ quan quản lý để phát triển các giải pháp nhân lực theo nhu cầu thực tế rất quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

Theo Phó Hiệu trưởng Đại học RMIT, mô hình hiện nay đang được nhà trường áp dụng là quá trình hợp tác bắt đầu từ việc xác định yêu cầu của doanh nghiệp và năng lực cần có cho từng vị trí việc làm; tiếp đó đánh giá năng lực hiện tại của người lao động, xác định khoảng cách kỹ năng, thiết kế chương trình đào tạo phù hợp và đánh giá kết quả sau đào tạo. Cách tiếp cận này cho phép chương trình được thiết kế linh hoạt theo nhu cầu cụ thể, kết hợp các năng lực nền tảng như ngoại ngữ, hiểu biết số và khả năng học tập với những nhóm kỹ năng chuyên biệt phục vụ mục tiêu của doanh nghiệp. Kết quả đào tạo không chỉ hướng tới nâng cao năng lực làm việc mà còn tạo lộ trình tiếp tục học tập, tích lũy văn bằng và phát triển nghề nghiệp.

“Tôi cho rằng thách thức hiện nay không chỉ là đào tạo được bao nhiêu người, mà là làm thế nào để bảo đảm người học có được những kỹ năng phù hợp, có thể vận dụng vào công việc và tiếp tục phát triển khi yêu cầu nghề nghiệp thay đổi. Điều đó đòi hỏi chúng ta phải chuyển từ cách tiếp cận giáo dục đơn lẻ sang một hệ sinh thái hợp tác, trong đó Chính phủ tạo điều kiện và định hướng, doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu và đồng kiến tạo chương trình, còn các cơ sở giáo dục cung cấp năng lực đào tạo, nghiên cứu và đổi mới.

Nếu cùng hành động theo hướng này, Việt Nam sẽ có thêm cơ hội xây dựng lực lượng lao động có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời bảo đảm rằng chuyển đổi số và sự phát triển của trí tuệ nhân tạo không chỉ tạo ra tăng trưởng kinh tế, mà còn mở rộng cơ hội học tập, việc làm và phát triển nghề nghiệp cho nhiều người hơn”, bà Mish Eastman cho biết.

Đối với Việt Nam, mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức 10%/năm trở nên cho giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu rất lớn về chất lượng nguồn nhân lực. Để nâng cao năng lực cạnh tranh toàn cầu, Việt Nam cần lực lượng lao động có kỹ năng chuyên sâu, khả năng thích ứng với công nghệ và năng lực giải quyết những vấn đề mới. Những định hướng phát triển kinh tế cũng cho thấy tầm quan trọng của việc nâng cao năng lực thị trường lao động, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ và những ngành nghề đòi hỏi kỹ năng mới. Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số giáo dục nghề nghiệp không chỉ là nhiệm vụ riêng của ngành Giáo dục. Đây là quá trình đòi hỏi sự phối hợp giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo, doanh nghiệp, người lao động và các đối tác quốc tế, trong đó mỗi chủ thể đảm nhận vai trò khác nhau nhưng cùng hướng tới mục tiêu phát triển năng lực và cải thiện kết quả việc làm.

Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, xây dựng các tiêu chuẩn cần thiết, thúc đẩy kết nối dữ liệu và hình thành cơ chế khuyến khích sự tham gia của các bên. Cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần chủ động đổi mới quản trị, cập nhật chương trình, phát triển đội ngũ và tổ chức đào tạo theo chuẩn năng lực. Doanh nghiệp cung cấp thông tin về nhu cầu nhân lực, tham gia đào tạo và đánh giá, tạo môi trường thực hành và mở rộng cơ hội tuyển dụng. Các đối tác quốc tế có thể đóng góp kinh nghiệm, công nghệ, chuẩn kỹ năng và phương thức quản trị phù hợp, hỗ trợ cơ sở đào tạo nâng cao năng lực triển khai. Hệ sinh thái ba bên này có thể tạo nền tảng để giáo dục nghề nghiệp đóng góp hiệu quả hơn cho năng lực cạnh tranh của Việt Nam, đồng thời hướng tới mục tiêu cuối cùng: người học có năng lực phù hợp, có cơ hội việc làm và có khả năng duy trì sinh kế bền vững trong một thị trường lao động không ngừng biến đổi.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận