Thông tư số 82/2026/TT-BGDĐT vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành ngày 30/9/2026 quy định quy trình biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình đối với 5 môn học chung trong chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng, gồm: Giáo dục chính trị, Ngoại ngữ, Năng lực số, Pháp luật và Giáo dục thể chất.
Việc thống nhất quy trình xây dựng chương trình, giáo trình các môn học chung hướng tới thúc đẩy công nhận kết quả học tập tương đương, tạo thuận lợi cho liên thông trong hệ thống giáo dục quốc dân, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý đào tạo và phát triển nguồn nhân lực giáo dục nghề nghiệp.
Một quy trình chung, tăng quyền chủ động cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp
Theo Thông tư, chương trình môn học chung phải xác định rõ thời lượng đối với từng trình độ trung cấp, cao đẳng, đáp ứng chuẩn đầu ra và các yêu cầu của chuẩn chương trình đào tạo giáo dục nghề nghiệp.
Đối với giáo trình, yêu cầu đặt ra là phải bám sát mục tiêu, yêu cầu và nội dung của chương trình; bảo đảm kiến thức, kỹ năng phù hợp với mục tiêu của từng chương, bài. Kết thúc mỗi chương, bài phải có hệ thống câu hỏi, bài tập; tài liệu tham khảo phải có nguồn gốc rõ ràng. Giáo trình được trình bày ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu, sử dụng thuật ngữ chuyên môn phổ biến và nhất quán.
Đáng chú ý, Thông tư quy định thống nhất quy trình tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành đối với cả 5 môn học nhưng có sự phân định về thẩm quyền và mức độ chủ động của cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Đối với môn Giáo dục chính trị, cơ quan được giao nhiệm vụ tổ chức biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình để thống nhất áp dụng chung.
Trong khi đó, với 4 môn gồm Ngoại ngữ, Năng lực số, Pháp luật và Giáo dục thể chất, người đứng đầu cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được chủ động tổ chức biên soạn hoặc lựa chọn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình để xây dựng chương trình đào tạo các ngành, nghề theo quy định.
Cách tiếp cận này vừa giữ được yêu cầu thống nhất về quy trình, chất lượng, vừa mở thêm không gian để cơ sở giáo dục nghề nghiệp lựa chọn nội dung phù hợp với đặc thù đào tạo. Đây là điểm có ý nghĩa trong bối cảnh các ngành, nghề có yêu cầu khác nhau về năng lực ngoại ngữ, năng lực số hay kiến thức pháp luật. Quyền chủ động sẽ phát huy hiệu quả khi đi cùng trách nhiệm thẩm định và lựa chọn, tránh tình trạng mỗi cơ sở xây dựng nội dung theo cách riêng nhưng thiếu sự bảo đảm về chất lượng.
Trường hợp sử dụng chương trình, giáo trình do cơ sở giáo dục nghề nghiệp khác biên soạn, việc lựa chọn phải bảo đảm tuân thủ quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ.
Riêng đối với môn Ngoại ngữ, Thông tư quy định các ngoại ngữ gồm tiếng Anh, tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật Bản, tiếng Hàn Quốc, tiếng Nga, tiếng Pháp và tiếng Đức. Người đứng đầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp quyết định lựa chọn ngoại ngữ để áp dụng trong chương trình đào tạo trình độ trung cấp, cao đẳng phù hợp với yêu cầu thực tiễn; trong đó ưu tiên lựa chọn tiếng Anh để thực hiện lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học.
Việc trao quyền lựa chọn ngoại ngữ theo yêu cầu thực tiễn cũng cho phép chương trình đào tạo gắn hơn với đặc thù ngành, nghề và nhu cầu sử dụng lao động. Với những lĩnh vực có tính quốc tế cao, khả năng lựa chọn ngoại ngữ phù hợp có thể hỗ trợ người học tiếp cận tài liệu chuyên môn và môi trường làm việc tốt hơn.
Tăng tiếng nói của doanh nghiệp, tạo cơ chế cập nhật chương trình
Một điểm đáng chú ý khác của Thông tư là sự tham gia của doanh nghiệp, người sử dụng lao động, chuyên gia và các tổ chức nghề nghiệp trong quá trình xây dựng, thẩm định chương trình, giáo trình các môn học chung.
Theo quy định, Tổ biên soạn chương trình môn học có ít nhất 9 thành viên, gồm đại diện cán bộ quản lý; giáo viên, giảng viên; chuyên gia; đại diện người sử dụng lao động hoạt động trong lĩnh vực liên quan và đại diện hiệp hội ngành, nghề nếu có.
Quá trình xây dựng chương trình phải xuất phát từ thực tiễn. Tổ biên soạn thực hiện khảo sát thực tế, xác định yêu cầu về năng lực đối với người học, nghiên cứu tài liệu chuyên môn liên quan, từ đó xác định mục tiêu, thiết kế nội dung và phương pháp đánh giá phù hợp.
Đối với giáo trình, việc biên soạn cũng phải dựa trên khảo sát thực tế, nghiên cứu tài liệu chuyên môn, xác định rõ mục tiêu và xây dựng nội dung học tập, câu hỏi ôn tập cho từng chương, bài.
Sự tham gia của người sử dụng lao động và các chuyên gia ngay từ khâu xây dựng giúp chương trình, giáo trình có thêm cơ sở để phản ánh yêu cầu của thực tiễn. Đặc biệt với các nội dung như Năng lực số, Ngoại ngữ hay Pháp luật, yêu cầu của môi trường học tập và việc làm có thể thay đổi theo thời gian. Vì vậy, việc khảo sát thực tế và lấy ý kiến từ các chủ thể ngoài cơ sở đào tạo có thể giúp hạn chế khoảng cách giữa nội dung được dạy và năng lực người học cần có.
Ở khâu thẩm định, Hội đồng có sự tham gia của đại diện cơ sở giáo dục nghề nghiệp, chuyên gia, doanh nghiệp, hiệp hội và tổ chức nghề nghiệp. Trong đó, số thành viên ngoài cơ quan chủ trì chiếm ít nhất một phần ba. Thành viên Hội đồng thẩm định không đồng thời là thành viên Tổ biên soạn chương trình, giáo trình được đưa ra thẩm định.
Kết quả thẩm định phải xác định rõ chương trình, giáo trình thuộc một trong ba trường hợp: được thông qua không cần chỉnh sửa, bổ sung; được thông qua nhưng phải chỉnh sửa, bổ sung; hoặc không được thông qua và phải nêu rõ lý do.
Quy định về thành phần và tính độc lập tương đối giữa tổ biên soạn với hội đồng thẩm định tạo thêm cơ sở để chương trình, giáo trình được xem xét từ nhiều góc độ trước khi ban hành. Không chỉ kiểm tra tính phù hợp về chuyên môn, quá trình này còn có thể đặt nội dung đào tạo trong mối liên hệ với thực tiễn sử dụng lao động và yêu cầu của người học.
Đặc biệt, Thông tư quy định chương trình, giáo trình các môn học chung sau khi được ban hành phải được công khai trên trang thông tin điện tử của cơ quan ban hành. Việc công khai toàn văn được thực hiện theo quy định của pháp luật về sở hữu trí tuệ, xuất bản và các quy định pháp luật có liên quan.
Cùng với công khai, chương trình, giáo trình phải được định kỳ rà soát, cập nhật không quá 5 năm một lần. Việc rà soát, cập nhật được thực hiện khi có thay đổi về chủ trương, chính sách, pháp luật hoặc khi có yêu cầu từ thực tiễn giảng dạy, học tập.
Đây là cơ chế quan trọng để chương trình, giáo trình không trở thành những tài liệu được ban hành một lần rồi sử dụng trong thời gian dài mà thiếu sự điều chỉnh. Việc công khai giúp tăng khả năng tiếp cận và theo dõi nội dung chương trình, trong khi yêu cầu rà soát định kỳ tạo áp lực cần thiết để các nội dung đào tạo được xem xét lại trước những thay đổi của chính sách, công nghệ và thực tiễn nghề nghiệp.
Tuy nhiên, hiệu quả của quy định này không chỉ nằm ở việc “cập nhật đúng hạn”. Điều quan trọng hơn là quá trình rà soát phải thực chất, dựa trên phản hồi từ người dạy, người học, cơ sở đào tạo và thị trường lao động. Nếu chỉ cập nhật về mặt hình thức mà không đánh giá những thay đổi về yêu cầu năng lực, chương trình, giáo trình vẫn có thể chậm thích ứng với thực tiễn.
Thông tư cũng đưa ra lộ trình cụ thể: trước ngày 5/9/2027, các cơ quan, đơn vị được giao nhiệm vụ phải tổ chức biên soạn, thẩm định, ban hành hoặc rà soát, cập nhật chương trình, giáo trình các môn học chung theo thẩm quyền.
Trước thời điểm chương trình, giáo trình môn Giáo dục chính trị được ban hành theo quy định mới, các cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp được tiếp tục áp dụng chương trình, giáo trình môn Giáo dục chính trị đã ban hành trước thời điểm Thông tư có hiệu lực.
Đối với chương trình, giáo trình đào tạo các ngành, nghề đang trong quá trình biên soạn, lấy ý kiến, thẩm định hoặc đã hoàn thành thẩm định nhưng chưa ban hành tại thời điểm Thông tư có hiệu lực, các đơn vị được tiếp tục thực hiện theo quy trình đã triển khai, nhưng phải rà soát, bảo đảm đáp ứng các yêu cầu của Thông tư trước khi ban hành.
Nhìn tổng thể, Thông tư 82/2026/TT-BGDĐT không chỉ quy định lại quy trình biên soạn, thẩm định và ban hành chương trình, giáo trình các môn học chung mà còn đặt ra cơ chế để các tài liệu này được công khai, có sự tham gia của các bên liên quan và được rà soát định kỳ. Đây là những yếu tố có thể góp phần nâng cao tính minh bạch, khả năng thích ứng và mức độ gắn kết giữa chương trình đào tạo với yêu cầu thực tiễn.