Thứ Năm , 28/05/2026 , 16:15:39 GMT+7

Đại học tăng tốc đào tạo kỹ sư cho các lĩnh vực chiến lược

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Hai, 18/05/2026, 15:29:04 GMT+7

Nhu cầu nhân lực bùng nổ trong các lĩnh vực AI, bán dẫn, đường sắt tốc độ cao và hạ tầng chiến lược đang tạo ra sức ép lớn đối với hệ thống đào tạo kỹ thuật. Không chỉ mở thêm ngành học mới, nhiều trường đại học bắt đầu tái cấu trúc chương trình đào tạo theo hướng gắn thực tiễn, tăng năng lực công nghệ và siết chất lượng đầu vào nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển dài hạn của nền kinh tế.

Áp lực nhân lực chiến lược buộc đại học kỹ thuật thay đổi

Tạp chí giáo dục
Đào tạo kỹ sư cần tăng tốc để đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ và hạ tầng. Ảnh: Báo Xây dựng.

Làn sóng đầu tư mạnh vào trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, tự động hóa, hạ tầng giao thông và các lĩnh vực công nghệ chiến lược đang kéo theo nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao. Không chỉ các ngành công nghệ cao, nhiều lĩnh vực từng được xem là đặc thù như đường sắt, cầu đường hay logistics hạ tầng cũng đang đứng trước nguy cơ thiếu hụt kỹ sư trong giai đoạn tới.

Theo dự báo từ các cơ sở đào tạo kỹ thuật, riêng lĩnh vực đường sắt tốc độ cao trong những năm tới đã cần tới hàng chục nghìn kỹ sư cùng lực lượng lớn nhân sự vận hành, khai thác. Bên cạnh đó là nhu cầu nhân lực từ các dự án cao tốc, sân bay, cảng biển và hệ thống giao thông hiện đại đang được triển khai trên quy mô lớn. Điều này phản ánh một thực tế rằng quá trình phát triển hạ tầng và chuyển đổi công nghệ của nền kinh tế đang diễn ra nhanh hơn khả năng cung ứng nhân lực hiện nay.

Sự thay đổi của thị trường lao động cũng tác động trực tiếp đến xu hướng tuyển sinh đại học. Các ngành liên quan đến công nghệ thông tin, AI, bán dẫn, tự động hóa tiếp tục nằm trong nhóm có mức cạnh tranh cao, cho thấy sức hút lớn từ nhu cầu việc làm và triển vọng nghề nghiệp.

Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là các trường đại học hiện không còn chỉ tập trung mở những ngành có sức hút tuyển sinh cao, thay vào đó, nhiều cơ sở đào tạo bắt đầu định hình lại chiến lược đào tạo theo hướng phục vụ các mục tiêu phát triển dài hạn của đất nước, đồng thời chuẩn bị nguồn nhân lực cho những lĩnh vực được xem là trụ cột tăng trưởng trong tương lai.

Việc mở thêm các chương trình đào tạo mới liên quan đến công nghệ, hợp tác quốc tế hay quản trị nguồn nhân lực trong môi trường công nghiệp hiện đại cho thấy phạm vi đào tạo kỹ sư đang được mở rộng đáng kể. Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng cần nhân lực có khả năng thích ứng với môi trường làm việc số hóa, kỹ sư hiện đại không chỉ cần giỏi chuyên môn mà còn phải có năng lực sử dụng công cụ số, khả năng giao tiếp, phối hợp và thích nghi với thay đổi công nghệ.

Nhiều chương trình đào tạo kỹ thuật hiện nay cũng được bổ sung các nội dung liên quan đến AI, trợ lý ảo, phân tích dữ liệu và kỹ năng số nhằm giúp sinh viên thích ứng nhanh hơn với môi trường lao động sau tốt nghiệp. Điều này cho thấy đào tạo kỹ thuật đang chuyển dần từ mô hình truyền thụ kiến thức chuyên môn đơn thuần sang mô hình phát triển năng lực công nghệ tổng hợp.

Từ tuyển sinh đến đào tạo: Xu hướng gắn thực tiễn và siết chất lượng đầu ra

Tạp chí giáo dục
Chất lượng đầu vào được chú trọng trong đào tạo khối ngành kỹ thuật. Ảnh: Báo Công thương.

Song song với việc đổi mới chương trình đào tạo, nhiều trường đại học kỹ thuật cũng bắt đầu điều chỉnh chính sách tuyển sinh nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đầu vào.

Ở các ngành liên quan đến hạ tầng, xây dựng công trình giao thông hay đường sắt của Trường Đại học Giao thông vận tải, ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào được nâng lên nhằm bảo đảm người học có đủ nền tảng về Toán và khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, xu hướng tuyển sinh hiện nay cũng cho thấy các trường không còn chỉ chú trọng năng lực tính toán mà bắt đầu đánh giá toàn diện hơn về khả năng tư duy, trình bày và giao tiếp của thí sinh.

Tại Đại học Bách khoa Hà Nội, iệc duy trì các tổ hợp xét tuyển có cả môn Ngữ văn trong đào tạo kỹ thuật là một minh chứng cho sự thay đổi đó. Trong bối cảnh kỹ sư hiện đại phải làm việc trong môi trường liên ngành, tham gia quản lý dự án, trao đổi với doanh nghiệp và thích ứng với công nghệ toàn cầu, khả năng diễn đạt, phản biện và giao tiếp ngày càng trở thành yêu cầu quan trọng.

Cùng với thay đổi đầu vào, mô hình đào tạo gắn với doanh nghiệp và thực tiễn nghề nghiệp cũng được nhiều trường đẩy mạnh triển khai. Xu hướng phối hợp giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp đang được xem là hướng đi nhằm rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và nhu cầu tuyển dụng thực tế.

Theo đó, sinh viên kỹ thuật được tăng cường tham gia thực hành, thực tập tại doanh nghiệp ngay trong quá trình học; đồng thời tiếp cận sớm với phòng thí nghiệm, công trình, mô hình vận hành thực tế và môi trường nghề nghiệp. Sau mỗi khóa đào tạo, phản hồi từ doanh nghiệp và cựu sinh viên cũng được sử dụng để tiếp tục điều chỉnh chương trình theo hướng sát thực tế hơn.

Ở các lĩnh vực hạ tầng giao thông, Trường Đại học Giao thông vận tải đã xây dựng chuyên ngành riêng về đường sắt và đường sắt tốc độ cao, đồng thời tham khảo chương trình đào tạo của các nước phát triển để hoàn thiện nội dung giảng dạy. Việc tăng thời lượng thực hành, tham quan công trình và tiếp cận mô hình vận hành thực tế được xem là giải pháp nhằm chuẩn bị lực lượng kỹ sư nòng cốt cho các dự án chiến lược trong tương lai gần.

Những chuyển động trong tuyển sinh và đào tạo cho thấy yêu cầu của thị trường lao động hiện nay không còn dừng ở số lượng kỹ sư, mà đang chuyển mạnh sang yêu cầu về khả năng thích ứng công nghệ, năng lực thực hành và tư duy liên ngành. Đây cũng là áp lực buộc các trường đại học kỹ thuật phải thay đổi nhanh hơn nếu muốn theo kịp tốc độ phát triển của nền kinh tế số và các dự án hạ tầng chiến lược.

Sự thay đổi trong đào tạo kỹ thuật hiện nay phản ánh quá trình dịch chuyển sâu của thị trường lao động từ mô hình tuyển dụng theo bằng cấp sang tuyển dụng theo năng lực thực tế. Khi các lĩnh vực AI, bán dẫn, giao thông tốc độ cao và hạ tầng số trở thành động lực tăng trưởng mới, yêu cầu đối với kỹ sư cũng không còn giới hạn ở kiến thức chuyên môn mà mở rộng sang khả năng làm chủ công nghệ, thích ứng nhanh và làm việc trong môi trường liên ngành. Điều này đặt ra yêu cầu lâu dài đối với các trường đại học: không chỉ mở ngành mới mà cần xây dựng được hệ sinh thái đào tạo gắn với thực tiễn, doanh nghiệp và nhu cầu phát triển chiến lược của quốc gia.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận