Kiểm định cơ sở giáo dục đại học theo 15 tiêu chuẩn, 60 tiêu chí
Từ ngày 15/5/2026, hoạt động kiểm định cơ sở giáo dục đại học tại Việt Nam sẽ được triển khai theo bộ tiêu chuẩn mới. Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học thay thế Thông tư số 12/2017/TT-BGDĐT ngày 19/5/2017 Quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học; bãi bỏ các quy định về hội đồng kiểm định chất lượng giáo dục được quy định tại Thông tư số 61/2012/TT-BGDĐT ngày 28/12/2012 Quy định điều kiện thành lập và giải thể, nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục.
Thông tư bao gồm 15 tiêu chuẩn và 60 tiêu chí đánh giá; được cấu trúc theo ba nhóm chính gồm: Chiến lược, Hệ thống và Kết quả. Phương thức đánh giá cũng được đổi mới theo hướng thực chất, dựa trên vận hành và hiệu quả của hệ thống bảo đảm chất lượng, thay vì chỉ dừng lại ở việc kiểm tra sự tuân thủ hồ sơ.
Thông tư quy định rõ mục đích sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá và sử dụng kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Cụ thể, cơ sở giáo dục đại học sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học và kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học để xây dựng, vận hành, phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, hướng dẫn và kiểm soát toàn bộ hoạt động liên quan đến cơ sở giáo dục đại học; tự đánh giá, công khai thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình, bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo.
Các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học để xây dựng các hướng dẫn đánh giá đối với cơ sở giáo dục đại học; thẩm định hồ sơ tự đánh giá; đánh giá ngoài, hướng dẫn hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong và cải tiến phương pháp vận hành hệ thống; công nhận hoặc không công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục đối với cơ sở giáo dục đại học.
Các tổ chức, cá nhân khác sử dụng bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học và kết quả kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học làm cơ sở để nhận định, đánh giá và tham gia phản biện xã hội đối với cơ sở giáo dục đại học mà họ quan tâm.
Theo Thông tư, quy trình kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học được thực hiện theo 4 bước: Tự đánh giá; đánh giá ngoài; thẩm định kết quả đánh giá; công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục. Chu kỳ kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học là 05 năm.
Tự chủ đại học và yêu cầu về kiểm định
Luật Giáo dục đại học 2025 đã xác lập rõ mô hình tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Trong bối cảnh đó, kiểm định không chỉ là hoạt động đánh giá ngoài mà phải gắn chặt với hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ của từng cơ sở.
Một thực tế là tỷ lệ các chương trình và cơ sở giáo dục đạt kiểm định khá cao, khiến dư luận đặt câu hỏi về tính thực chất của hoạt động này. Tuy nhiên, theo các chuyên gia, cần nhìn nhận vấn đề một cách đầy đủ hơn. Thực tế, các cơ sở giáo dục thường chỉ đăng ký kiểm định khi đã hoàn tất quá trình tự đánh giá và tin rằng mình đạt yêu cầu. Những chương trình chưa đạt sẽ chưa tham gia kiểm định. Vì vậy, tỷ lệ “đạt cao” phần nào phản ánh quá trình đánh giá nội bộ.
Tuy nhiên, điều này cũng cho thấy một hạn chế: Kiểm định có nguy cơ trở thành một “đích đến” mang tính thủ tục, thay vì một công cụ cải tiến liên tục. Khi mục tiêu là “đạt chuẩn”, các cơ sở có thể tập trung vào việc hoàn thiện hồ sơ, minh chứng, thay vì cải thiện chất lượng thực chất. Các chính sách mới đang hướng tới việc thay đổi bản chất của kiểm định - từ đánh giá kết quả sang thúc đẩy quá trình cải tiến liên tục. Một xu hướng mới là tăng cường công khai báo cáo tự đánh giá của các cơ sở giáo dục. Khi thông tin được minh bạch, xã hội sẽ tham gia vào quá trình giám sát chất lượng. Đánh giá ngoài khi đó đóng vai trò xác nhận và tư vấn.
Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng quốc tế. Kiểm định chuyển từ mô hình “kiểm soát” sang “đồng hành”, hỗ trợ các cơ sở giáo dục phát triển bền vững. Nếu chất lượng chỉ được áp đặt từ bên ngoài thông qua các tiêu chuẩn và quy trình, thì hiệu quả sẽ hạn chế. Ngược lại, khi chất lượng trở thành một giá trị nội tại, được chia sẻ trong toàn bộ nhà trường thì cải tiến sẽ diễn ra một cách tự nhiên và bền vững.
Văn hoá chất lượng không chỉ là việc tuân thủ quy trình PDCA (Plan - Do - Check - Act), mà còn là niềm tin và cam kết đối với sứ mệnh giáo dục. Khi đó, kiểm định không còn là áp lực, mà trở thành cơ hội để nhìn lại và phát triển.
Những thay đổi trong hệ thống kiểm định giáo dục đại học hiện nay cho thấy một nỗ lực rõ ràng trong việc nâng cao chất lượng và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, điều quan trọng hơn là định vị lại vai trò của kiểm định trong toàn bộ hệ thống giáo dục. Kiểm định không chỉ là công cụ đánh giá, mà phải trở thành động lực cải tiến, là cơ chế thúc đẩy trách nhiệm giải trình và là nền tảng xây dựng niềm tin xã hội.