Thứ Sáu , 27/02/2026 , 09:17:21 GMT+7

Kiểm định giáo dục đại học trước yêu cầu đổi mới và tự chủ

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Tư, 28/01/2026, 15:05:25 GMT+7

Sau nhiều năm triển khai, kiểm định chất lượng giáo dục đại học ở Việt Nam đã và đang góp phần thiết lập các chuẩn mực tối thiểu và tạo áp lực cải tiến đối với các cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới, đột phá phát triển giáo dục đào tạo, đặc biệt trong bối cảnh tự chủ đại học và sự tác động ngày càng sâu của trí tuệ nhân tạo, công tác kiểm định đang đứng trước đòi hỏi phải thay đổi cách tiếp cận.

Kiểm định chất lượng là một cơ chế mới được quy định chính thức trong Luật Giáo dục Đại học 2018, gắn với thực hiện tự chủ và chịu trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học. Sau nhiều năm triển khai thi hành Luật, kiểm định chất lượng giáo dục đại học đã có những bước chuyển biến, giúp cải tiến và nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục đại học. Hiện nay, việc kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ đại học Việt Nam được thực hiện theo quy định tại Thông tư 04/2025/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ đại học tại Việt Nam, được ban hành ngày 17/02/2025, thay thế các quy định cũ, áp dụng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo (phiên bản 4.0 của AUN-QA), quy trình 4 bước (tự đánh giá, đánh giá ngoài, thẩm định, công nhận), và chu kỳ kiểm định linh hoạt (5-7 năm). Điểm mới quan trọng là nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra (OBE) và cải tiến liên tục (PDCA), cho phép kéo dài chu kỳ lên 7 năm với chương trình đạt yêu cầu, giảm bớt thủ tục hành chính, tăng quyền tự chủ cho các trường đại học, hướng tới hội nhập quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng đặt ra nhiều câu hỏi: Vì sao tỷ lệ “Đạt” vẫn cao; kiểm định đã thực sự phản ánh chất lượng hay chưa; làm thế nào để kiểm định trở thành động lực cải tiến, thay vì là một thủ tục cần tuân thủ?

Tạp chí Giáo dục đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH. Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ về nâng cao chất lượng kiểm định không chỉ là sửa tiêu chí hay đổi thang đánh giá, mà là sự chuyển dịch tư duy đo lường kỹ thuật sang kiểm định dựa trên triết lý giáo dục và giá trị cốt lõi.

Tạp chí giáo dục
GS.TSKH. Đặng Ứng Vận - nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Văn phòng Chính phủ

Trong bối cảnh Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT quy định về kiểm định chất lượng chương trình đào tạo các trình độ đại học tại Việt Nam, chuẩn bị cho bộ tiêu chí đánh giá cơ sở giáo dục đại học, theo GS, đâu là điểm chuyển quan trọng trong tư duy kiểm định hiện nay?

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận: Hiện nay, về cơ bản, bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng mà Việt Nam đang sử dụng vẫn dựa trên việc tiếp thu và dịch chuyển từ các bộ chuẩn quốc tế, tất nhiên có điều chỉnh cho phù hợp với điều kiện trong nước. Điều chỉnh quan trọng nhất nằm ở việc quy định 10 tiêu chí điều kiện, mỗi tiêu chuẩn có tối thiểu một tiêu chí và giao các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục quy định chi tiết hơn về các mức đạt/không đạt của các tiêu chí.

Trước đây, chúng ta sử dụng bộ tiêu chuẩn phiên bản 2.0 của AUN-QA (Tổ chức mạng lưới bảo đảm chất lượng các trường đại học ASEAN). Sau đó, thời gian vừa qua, cục Quản lý chất lượng (Bộ Giáo dục và Đào tạo) đã tổ chức các nhóm chuyên gia, nhà khoa học để tiếp thu bộ chuẩn phiên bản 4.0 của AUN-QA, làm cơ sở để xây dựng Thông tư số 04/2025/TT-BGDĐT. Vì vậy, có thể nói rằng, về mặt năng lực, các trường đại học đã sẵn sàng triển khai. Điểm chuyển quan trọng nhất không nằm ở số lượng tiêu chí hay việc cập nhật phiên bản bộ chuẩn, mà nằm ở cách chúng ta hiểu về “chất lượng”. Nếu kiểm định chất lượng chỉ dừng lại ở việc xác nhận đạt hay không đạt theo các tiêu chí kỹ thuật thì chưa đủ. Điều cốt lõi là kiểm định phải trả lời được câu hỏi: Chất lượng giáo dục đại học nhằm đáp ứng mục tiêu gì, dựa trên hệ giá trị nào và hướng tới hình thành con người ra sao. Khi thiếu nền tảng triết lý, kiểm định rất dễ sa vào đo lường hình thức, trong khi bản chất của chất lượng lại nằm ở những giá trị sâu sắc hơn: các giá trị cốt lõi, triết lý nuôi dưỡng văn hoá chất lượng. Bảo đảm chất lượng không chỉ để kiểm định định kỳ mà là một văn hoá tồn tại của một nhà trường với những giá trị và niềm tin, từ đó gắn bó, tự giác và có trách nhiệm hơn với chất lượng. Khi triết lý thấm sâu, chất lượng không bị áp đặt từ bên ngoài mà trở thành cam kết tự thân.

Triết lý nuôi dưỡng văn hoá chất lượng. Bảo đảm chất lượng không chỉ là kiểm định định kỳ mà là một văn hoá tồn tại của một nhà trường với những giá trị và niềm tin, từ đó gắn bó, tự giác và có trách nhiệm hơn với chất lượng. Khi triết lý thấm sâu, chất lượng không bị áp đặt từ bên ngoài mà trở thành cam kết tự thân.
GS.TSKH. Đặng Ứng Vận

Một thực tế được xã hội quan tâm đó là tỷ lệ chương trình và cơ sở giáo dục đạt kiểm định khá cao. Theo quan điểm của GS, điều này phản ánh gì về cách thiết lập, thực thi chính sách kiểm định và vai trò của triết lý giáo dục trong kiểm định chất lượng?

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận: Trước hết cần khẳng định, không phải vì tiêu chuẩn “dễ” nên nhiều chương trình và cơ sở giáo dục đạt được. Lý do quan trọng là các cơ sở giáo dục hiện nay đều tự đánh giá rất kỹ trước khi đăng ký kiểm định. Nếu thấy chưa đạt, họ sẽ chưa mời đoàn đánh giá ngoài. Do đó, tỷ lệ đạt cao phản ánh một quá trình sàng lọc từ trước. Mặt khác, cho tới nay vẫn còn không ít cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo chưa được kiểm định.

Tuy nhiên, thực tiễn kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục và chương trình đào tạo của Việt Nam cho thấy chúng ta chưa quan tâm đầy đủ và đúng mức đến vai trò của triết lý giáo dục.

Thứ nhất là, theo Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thì triết lý giáo dục gắn với các hoạt động dạy - học và chuẩn đầu ra. Nói cách khác, những tuyên bố triết lý được cụ thể hóa thành mục tiêu và chuẩn đầu ra.

Thứ hai là, các tiêu chí đánh giá hiện nay đang thiên về đo lường kỹ thuật như chỉ số hoàn thiện KPI, quy trình PDCA (Plan - Do - Check - Act) mà thiếu định hướng giá trị. Những gì là động lực của sự phát triển chất lượng như niềm tin, giá trị và năng lực đội ngũ vẫn còn đang tiềm ẩn.

Tạp chí giáo dục
Tạp chí giáo dục
Tạp chí giáo dục
Về mặt năng lực, các trường đại học đã sẵn sàng triển khai các quy định về kiểm định chất lượng (Nguồn: Đại học Quốc gia Hà Nội)

Một trong những điều chỉnh của Thông tư 04/TT-BGDĐT đó là thay đổi các mức đánh giá tiêu chí từ 1-7 điểm sang mức đánh giá đạt và không đạt, có các tiêu chí điều kiện bắt buộc đáp ứng mức đạt, điều chỉnh số tiêu chuẩn, tiêu chí phù hợp. Theo GS, việc chuyển từ chấm điểm sang đánh giá, kèm theo các mức công nhận theo thời hạn có tác động như thế nào đến chất lượng kiểm định?

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận: Trước đây, việc đánh giá sử dụng thang điểm từ 1 đến 7. Tuy nhiên, trên thực tế, thang điểm này chưa được sử dụng hết các đầu điểm. Khi tham gia các đoàn đánh giá, chúng tôi rất hiếm khi cho điểm quá thấp. Điểm 1-2 chỉ xuất hiện khi tiêu chí không được triển khai trong thực tiễn. Đa phần các trường đại học đã quen với Bộ tiêu chuẩn này, nên đa số các tiêu chí đạt từ mức 3 đến 4 điểm. Điểm 5 trở lên được đánh giá khi vượt các mốc chuẩn. Điểm 6 rất hiếm, bởi để đạt mức điểm này cơ sở giáo dục đại học phải là hình mẫu trong nước được quốc tế xác nhận, chẳng hạn có chứng chỉ quốc tế về môi trường làm việc hoặc quản trị nhân lực.

Chính vì vậy, việc chuyển sang cách đánh giá “Đạt - Không đạt” là hợp lý. Cách làm này vừa rõ ràng, minh bạch, vừa mở ra dư địa để ghi nhận sự phát triển ở những mức độ khác nhau. Khi đánh giá Đạt phải rõ ràng các tiêu chí, tương tự, nếu kết luận Không đạt cũng phải giải thích một cách minh bạch. Bên cạnh đó, quy định về thời hạn giấy chứng nhận kiểm định, chẳng hạn đạt trong 2 năm, 5 năm hay 7 năm cũng là một cơ chế mở, tạo điều kiện cho các đơn vị cải tiến liên tục.

Tuy nhiên, cách đánh giá này có thể khiến quá trình đối thoại giữa đoàn đánh giá ngoài và nhà trường trở nên “gay cấn” hơn. Bởi chỉ cần một tiêu chí cốt lõi không đạt là toàn bộ kết quả bị ảnh hưởng. Do đó, việc đánh giá sẽ phải thận trọng hơn, đối thoại khắt khe hơn. Nhưng sự thay đổi này là cần thiết.

Tính đến ngày 31/3/2025, cả nước có 209/265 cơ sở giáo dục đào tạo (chiếm 78,8%) và 2.452 (30,66%) chương trình đào tạo các trình độ được kiểm định và cấp chứng nhận của các tổ chức kiểm định trong nước và nước ngoài, trong đó có 12 cơ sở giáo dục đào tạo và 670 chương trình đào tạo được đánh giá và công nhận bởi các tổ chức kiểm định quốc tế có uy tín.
Bộ Giáo dục và Đào tạo

Luật Giáo dục đại học (sửa đổi) 2018 đang khuyến khích mô hình tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình. Điều này đặt ra yêu cầu gì mới cho công tác kiểm định? Xin GS chia sẻ cụ thể.

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận: Trong bối cảnh tự chủ, công việc kiểm định không chỉ dừng ở hoạt động “đánh giá ngoài” và công nhận. Điểm cốt lõi trong công tác bảo đảm chất lượng nằm ở hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ của mỗi cơ sở giáo dục. Mục tiêu của kiểm định không chỉ là “cho điểm” mà còn là để tư vấn giúp cho nhà trường xây dựng được một hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong, tự đánh giá thực chất, vận hành thường xuyên và có thể tự tin công bố kết quả tự đánh giá với xã hội.

Về lâu dài, tôi cho rằng việc công bố báo cáo tự đánh giá cũng là một hình thức giải trình quan trọng. Khi nhà trường công khai những gì mình đang làm, xã hội sẽ đóng vai trò giám sát. Đánh giá ngoài khi đó sẽ đóng vai trò xác nhận và tư vấn. Đây cũng là hướng đi phù hợp với tinh thần của Luật Giáo dục đại học sửa đổi vừa được Quốc hội thông qua.

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển từ kiểm định nặng về tuân thủ quy trình sang kiểm định dựa trên kết quả đầu ra và tác động xã hội của giáo dục đại học. Theo GS, Việt Nam đang ở đâu trên lộ trình này? Kinh nghiệm quốc tế nào có thể tham khảo để tránh tình trạng kiểm định hình thức?

GS.TSKH. Đặng Ứng Vận: Không chỉ Việt Nam mà ở các nước trên thế giới, các Bộ tiêu chuẩn hiện nay chủ yếu đo những gì có thể đo được. Tuy nhiên, có những giá trị rất quan trọng của giáo dục mà hiện nay chúng ta chưa đo lường được. Ví dụ, mức độ trưởng thành của sinh viên sau những năm tháng học đại học thể hiện qua nhận thức xã hội, hiểu bản thân và thị trường lao động … Những yếu tố thuộc về niềm tin, giá trị, nhân cách… tồn tại như phần chìm của “tảng băng trôi”, rất khó đo lường.

Từ xa xưa, mục tiêu của giáo dục là “Học để làm người”. Ngày nay, chúng ta vẫn chưa đo lường được một cách đầy đủ việc giáo dục đã hình thành con người như thế nào. Những hiện tượng như gian lận, tham nhũng hay những hành vi thiếu trung thực trong lao động, sản xuất, kinh doanh đều phản ánh vấn đề ở chiều sâu nhân cách. Nếu các hệ thống kiểm định hiện tại không tính đến chúng, nguy cơ làm sai lệch mục đích của giáo dục là rõ ràng khi các cơ sở giáo dục phải tuân theo những gì có thể đo lường được thay vì những gì nên được trau dồi. Mặc dù trường đại học được yêu cầu có các tuyên bố chính thức về triết lý giáo dục nhưng chúng lại không được phản ánh thỏa đáng trong cách đánh giá chương trình đào tạo. Điều này hạn chế sự đa dạng và ngăn cản sự đổi mới.

Tạp chí giáo dục

Phương pháp tiếp cận dựa trên triết lý có thể khôi phục tính chủ đích, chiều sâu và tính toàn vẹn cho hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục.

Từ phân tích trên đây, thay cho "principle - based" (dựa trên nguyên lý) và "rule - based" (dựa trên quy tắc), chúng tôi khuyến nghị chuyển đổi sang kiểm định dựa trên triết lý (philosophy - based) - một phương pháp mà trong đó việc tự đánh giá của trường, đánh giá chương trình và đánh giá bên ngoài được hình thành dựa trên triết lý giáo dục nền tảng của mỗi trường đại học. Phương pháp này sẽ kết hợp các tiêu chuẩn cốt lõi chung với các tiêu chí cụ thể theo bối cảnh; nhận thức rằng chất lượng giáo dục không chỉ là một cấu trúc kỹ thuật mà còn là một cấu trúc mang giá trị; trao quyền cho các trường thiết kế các hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ (IQA) phản ánh bản sắc, sứ mệnh và cam kết triết lý riêng của họ.

Thực tế, không có mô hình chung nào cho IQA. Mỗi trường đại học phải xây dựng một hệ thống bảo đảm chất lượng phù hợp, phát triển từ các giá trị và mục đích riêng, thay vì một hệ thống áp đặt từ bên ngoài hoặc chỉ dựa trên sự tuân thủ. Việc tái cấu trúc này đặc biệt cấp bách trong thời đại AI, nơi các mô hình thuật toán dựa trên dữ liệu có nguy cơ làm mất đi sự đa dạng trong giáo dục. Một phương pháp tiếp cận dựa trên triết lý có thể khôi phục tính chủ đích, chiều sâu và tính toàn vẹn cho hoạt động đánh giá chất lượng giáo dục.

Trân trọng cảm ơn những chia sẻ của GS!







PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận