Thứ Ba , 21/04/2026 , 16:09:58 GMT+7

Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học: Từ mục tiêu đến thực thi bằng công nghệ

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 16/04/2026, 11:08:02 GMT+7

Đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học đang là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực. Tuy nhiên, để chuyển từ mục tiêu sang thực thi, các trường đại học đang đứng trước bài toán lớn về phương thức tổ chức dạy học, trong đó ứng dụng công nghệ và chuyển đổi số được xem là yếu tố quan trọng.

Thực tiễn triển khai các chính sách

Việc nâng cao năng lực tiếng Anh trong giáo dục đại học đã được xác lập rõ trong các chiến lược phát triển giáo dục và nguồn nhân lực quốc gia. Triển khai các chủ trương của Đảng về đổi mới giáo dục và phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là Kết luận số 91-KL/TW tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW và Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá giáo dục, trong đó nhấn mạnh yêu cầu từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học, ngành Giáo dục đang thúc đẩy nhiều giải pháp trong hệ thống đại học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, tạo nền tảng để Việt Nam hội nhập sâu hơn vào môi trường học thuật và tri thức toàn cầu.

Tạp chí giáo dục
Các trường đại học đang đứng trước bài toán lớn về phương thức tổ chức dạy học trong việc đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường đại học (Nguồn: website Trường Đại học Thành Đô)

Theo khảo sát từ Vụ Giáo dục Đại học, Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ sở đào tạo đang tích cực triển khai chuyển đổi số trong dạy học tiếng Anh. Các hoạt động chính tập trung vào ứng dụng công nghệ số trong giảng dạy, kiểm tra đánh giá, xây dựng tài liệu, học liệu số và quản lý đào tạo toàn diện. Việc sử dụng các hệ thống quản lý học tập (LMS) như Moodle, Canvas, Google Classroom, Microsoft Teams và các nền tảng họp trực tuyến như Zoom đã trở nên phổ biến, cho phép giảng viên đăng tải tài liệu, tổ chức lớp học ảo, giao bài tập và theo dõi tiến độ học tập của sinh viên. Nhiều trường đã số hóa tài liệu, giáo trình, xây dựng kho học liệu điện tử và khuyến khích sinh viên sử dụng các nguồn tài nguyên trực tuyến. Ứng dụng công nghệ trong kiểm tra đánh giá cũng được đẩy mạnh thông qua các bài kiểm tra trực tuyến, phần mềm trộn đề và chấm điểm tự động. Đặc biệt, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào hỗ trợ giảng dạy (thiết kế bài giảng, cá nhân hóa nội dung) và học tập (luyện phát âm, ngữ pháp) bước đầu đã được triển khai tại một số trường. Mô hình dạy học kết hợp (blended learning) giữa trực tiếp và trực tuyến đang dần trở thành xu hướng.

Sử dụng công nghệ để hỗ trợ và định hình phương pháp giáo dục

Nhận định về hiện trạng sử dụng tiếng Anh trong trường đại học, ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cho biết: “Bên cạnh những thành tựu đạt được, chúng ta cũng cần nhìn nhận một cách khách quan và thẳng thắn rằng, năng lực tiếng Anh của người học vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng; sự chênh lệch giữa các vùng miền, giữa các cơ sở giáo dục còn khá lớn; đội ngũ giảng viên có khả năng giảng dạy chuyên ngành bằng tiếng Anh còn thiếu và chưa đồng đều; môi trường học thuật sử dụng tiếng Anh chưa thực sự phổ biến. Đặc biệt, việc ứng dụng công nghệ trong dạy và học ngoại ngữ còn phân tán, thiếu đồng bộ, chưa hình thành được các nền tảng số quy mô lớn, có khả năng lan toả toàn hệ thống. Những hạn chế này cho thấy chúng ta vẫn đang ở giai đoạn “học ngoại ngữ”, chưa thực sự chuyển sang giai đoạn “sử dụng ngoại ngữ như một công cụ phát triển”.

Tạp chí giáo dục
Ông Vũ Thanh Mai - Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương

Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương cũng khẳng định, đối với việc học ngoại ngữ, công nghệ không chỉ là công cụ hỗ trợ, mà thực sự trở thành hạ tầng cốt lõi để hình thành môi trường học tập mới, linh hoạt, mở và kết nối toàn cầu. Nếu không có đột phá về công nghệ, việc hiện thực hoá mục tiêu đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Vụ Giáo dục đại học đề ra các mục tiêu cụ thể trong quá trình thực hiện. Trong giai đoạn 2025-2030, có ít nhất 20% số cơ sở giáo dục đại học trên cả nước đạt mức 1; 5% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 3% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3. Các chỉ số này tăng dần lên theo từng giai đoạn. Đến năm 2045, ít nhất 50% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 2 và 25% số cơ sở giáo dục đại học đạt mức độ 3. Theo ông Vũ Thanh Mai, để đạt được các mục tiêu trên, cần tập trung vào các định hướng quan trọng.

Thứ nhất, chủ trương đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai cần được tiếp cận như một chính sách phát triển quốc gia, không chỉ dừng lại ở phạm vi giáo dục, có tính liên ngành, liên vùng, gắn với chiến lược khoa học công nghệ, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Ngoài ra, cần xây dựng mô hình tổng thể về “hệ sinh thái giáo dục đại học song ngữ dựa trên công nghệ”, trong đó xác định rõ vai trò của các thành tố: chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, hạ tầng công nghệ, học liệu số, cơ chế quản trị và hệ thống đánh giá. Mô hình này phải có tính mở, linh hoạt, có khả năng triển khai ở quy mô lớn nhưng vẫn phù hợp với điều kiện cụ thể của từng cơ sở giáo dục. Đồng thời, cần thúc đẩy hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ giáo dục Việt Nam đủ mạnh, có khả năng đồng hành cùng hệ thống giáo dục đại học trong việc phát triển các giải pháp công nghệ tiên tiến, phù hợp với các đặc thù của Việt Nam.

“Trong quá trình thực hiện mục tiêu, đội ngũ giảng viên đóng vai trò vô cùng quan trọng, cần nghiên cứu các giải pháp đột phá để phát triển đội ngũ giảng viên, trong đó chú trọng nâng cao năng lực giảng dạy bằng tiếng Anh, năng lực sử dụng công nghệ và khả năng tham gia môi trường học thuật quốc tế. Ngoài ra, cần có cơ chế, chính sách đủ mạnh để thu hút, trọng dụng các chuyên gia, giảng viên quốc tế, đồng thời phát huy nguồn lực trí thức người Việt Nam ở nước ngoài”, ông Vũ Thanh Mai chia sẻ thêm.

Có thể thấy, việc đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong giáo dục đại học không chỉ là yêu cầu của hội nhập mà còn là thước đo năng lực thích ứng của hệ thống giáo dục trước những biến động nhanh của thời đại số. Thực tiễn triển khai cho thấy, nếu chỉ dừng lại ở đổi mới chương trình hay nâng chuẩn đầu ra, mục tiêu này khó có thể đạt được một cách thực chất.

Trong bối cảnh đó, công nghệ không còn là yếu tố bổ trợ mà đang trở thành nền tảng để tái cấu trúc toàn bộ quá trình dạy và học. Từ xây dựng học liệu, tổ chức lớp học, kiểm tra đánh giá đến hình thành môi trường học thuật mở, công nghệ giúp rút ngắn khoảng cách giữa “học ngoại ngữ” và “sử dụng ngoại ngữ” - điều kiện cốt lõi để tiếng Anh thực sự trở thành công cụ học tập, nghiên cứu và làm việc.

Tuy nhiên, để công nghệ phát huy hiệu quả, cần sự thay đổi tích cực đồng bộ từ chính sách, nhà trường đến đội ngũ giảng viên và người học. Khi mỗi cơ sở giáo dục đại học xây dựng được hệ sinh thái học tập số phù hợp, gắn với đặc thù đào tạo và nhu cầu thị trường lao động, mục tiêu đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai sẽ không còn là đích đến xa, mà trở thành một quá trình chuyển đổi có thể đo lường và hiện thực hóa trong từng giai đoạn.

"cần thúc đẩy hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghệ giáo dục Việt Nam đủ mạnh, có khả năng đồng hành cùng hệ thống giáo dục đại học trong việc phát triển các giải pháp công nghệ tiên tiến, phù hợp với các đặc thù của Việt Nam"

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận