Thứ Hai , 21/09/2026 , 18:33:19 GMT+7

Giáo dục an toàn mạng đi vào thực chất, từ nhận diện rủi ro đến kỹ năng ứng phó

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Sáu, 18/09/2026, 15:53:59 GMT+7

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Công văn số 6206/BGDĐT-GDPT gửi các sở GDĐT hướng dẫn triển khai giáo dục an toàn mạng toàn diện trong các cơ sở giáo dục phổ thông năm học 2026-2027. Điểm nhấn của hướng dẫn là chuyển giáo dục an toàn mạng từ việc cung cấp kiến thức sang hình thành năng lực nhận diện, phòng ngừa, ứng phó và tìm kiếm hỗ trợ khi học sinh gặp rủi ro trên môi trường số.

Từ nhận diện nguy cơ đến năng lực tự bảo vệ trên môi trường số

Tạp chí giáo dục
An toàn mạng được lồng ghép trong hoạt động dạy học. Ảnh: Báo Thể thao và Văn hoá.

Theo hướng dẫn của Bộ GDĐT, giáo dục an toàn mạng toàn diện là quá trình giáo dục có hệ thống nhằm hình thành và phát triển ở học sinh năng lực sử dụng môi trường số an toàn, lành mạnh, có trách nhiệm và có đạo đức. Học sinh được trang bị khả năng bảo vệ bản thân, người khác và dữ liệu cá nhân; nhận diện, phòng ngừa, ứng phó với các nguy cơ trên mạng; tuân thủ pháp luật; duy trì sức khỏe thể chất, tinh thần; đồng thời khai thác hiệu quả môi trường số phục vụ học tập, giao tiếp và phát triển bản thân.

Việc triển khai giáo dục an toàn mạng trong các cơ sở giáo dục phổ thông hướng tới giúp học sinh sử dụng Internet, mạng xã hội, nền tảng học tập trực tuyến, dữ liệu số và công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) một cách an toàn, lành mạnh, nhân văn và có trách nhiệm.

Không chỉ tập trung vào học sinh, giáo dục an toàn mạng toàn diện còn hướng tới nâng cao trách nhiệm và năng lực phối hợp của nhà trường, giáo viên, cán bộ tư vấn học đường, cha mẹ học sinh và các lực lượng liên quan trong phòng ngừa, phát hiện, tiếp nhận, hỗ trợ ban đầu, xử lý và phục hồi sau sự cố trên môi trường số.

Qua đó, góp phần hình thành các năng lực thiết yếu của công dân số, đồng thời xây dựng môi trường giáo dục số an toàn, lành mạnh và phù hợp với đặc điểm lứa tuổi học sinh phổ thông.

Điểm đáng chú ý trong cách tiếp cận này là an toàn mạng không được giới hạn ở việc dạy học sinh cách sử dụng thiết bị hay nhận biết một số nguy cơ kỹ thuật. Trong môi trường số, rủi ro có thể đến từ thông tin sai lệch, lộ dữ liệu cá nhân, bắt nạt trực tuyến, lạm dụng công nghệ, mất cân bằng đời sống số hay sử dụng AI thiếu trách nhiệm. Vì vậy, năng lực an toàn mạng cần được nhìn như một thành tố của năng lực công dân số, trong đó học sinh vừa biết tự bảo vệ mình, vừa hiểu trách nhiệm đối với người khác và cộng đồng.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu phối hợp rõ hơn giữa nhà trường và gia đình. Khi phần lớn hoạt động trực tuyến của học sinh diễn ra ngoài giờ học, nhà trường khó có thể đảm nhiệm vai trò duy nhất. Việc hình thành thói quen số an toàn vì thế cần sự thống nhất trong hướng dẫn, hỗ trợ và xử lý tình huống giữa các lực lượng giáo dục.

Ngoài ra, Bộ GDĐT yêu cầu việc tổ chức giáo dục an toàn mạng cho học sinh phổ thông phải phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương và cơ sở giáo dục, bảo đảm tính thiết thực, khả thi, hiệu quả.

Nội dung giáo dục an toàn mạng toàn diện được lồng ghép, tích hợp trong các môn học, hoạt động giáo dục và trong hệ thống kế hoạch, hồ sơ hiện hành của nhà trường, không làm phát sinh hồ sơ mới; không tổ chức thành môn học, tiết học riêng.

Hoạt động giáo dục phải lấy học sinh làm trung tâm; bảo đảm an toàn tâm lý, quyền riêng tư và bảo mật thông tin cá nhân của học sinh trong quá trình dạy học, khảo sát, đánh giá và hỗ trợ triển khai thực hiện.

Đặc biệt, việc triển khai phải chú trọng thực hành, trải nghiệm, xử lý tình huống và tạo sản phẩm học tập; giúp học sinh biết nhận diện, phòng ngừa, ứng phó và tìm kiếm hỗ trợ khi gặp rủi ro trên môi trường số. Bộ GDĐT lưu ý không biến giáo dục an toàn mạng toàn diện thành hoạt động tuyên truyền hình thức hoặc nội dung kỹ thuật chuyên sâu vượt quá yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông.

Trong quá trình thực hiện, môn Tin học giữ vai trò nòng cốt trong cung cấp kiến thức nền tảng, kỹ năng số cốt lõi và nguyên tắc sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm. Đồng thời, khuyến khích lồng ghép, tích hợp nội dung giáo dục an toàn mạng toàn diện trong các môn học, hoạt động giáo dục khác; các lực lượng giáo dục trong nhà trường có trách nhiệm phối hợp thực hiện.

Cùng với đó, cần tăng cường phối hợp giữa nhà trường, gia đình, cơ quan quản lý giáo dục, cơ quan chuyên môn, tổ chức bảo vệ trẻ em, cơ quan công an, y tế, đoàn thể, doanh nghiệp công nghệ và các lực lượng liên quan theo quy định của pháp luật.

Yêu cầu không phát sinh hồ sơ mới và không tổ chức thành môn học, tiết học riêng cho thấy giáo dục an toàn mạng được đặt trong logic tích hợp, thay vì tạo thêm một đầu việc độc lập cho nhà trường. Điều này có ý nghĩa trong bối cảnh chương trình giáo dục đã có nhiều nội dung cần triển khai. Nếu thực hiện đúng tinh thần này, an toàn mạng có thể trở thành một phần tự nhiên của hoạt động dạy học và giáo dục thay vì một chuyên đề được tổ chức riêng lẻ.

Lựa chọn nội dung phù hợp từng cấp học, từng đối tượng

Tạp chí giáo dục
Tăng cường phối hợp để bảo vệ học sinh trên môi trường mạng. Nguồn: The Olympia Schools.

Theo hướng dẫn của Bộ GDĐT, cơ sở giáo dục phổ thông lựa chọn, sắp xếp nội dung giáo dục an toàn mạng toàn diện phù hợp với cấp học, môn học, hoạt động giáo dục, điều kiện triển khai và đặc điểm tâm sinh lý học sinh.

Nội dung tập trung vào 8 chủ đề chính gồm: khai thác, đánh giá thông tin số và nhận diện rủi ro thông tin; giao tiếp, hợp tác, ứng xử và công dân số; quản lý danh tính số, dữ liệu cá nhân và quyền riêng tư; an toàn thiết bị, tài khoản và ứng phó sự cố; sức khỏe số, an sinh số và cân bằng đời sống số; sáng tạo nội dung số, bản quyền và trách nhiệm số; sử dụng AI an toàn trong học tập và sinh hoạt; tìm kiếm hỗ trợ, phục hồi và đóng góp cộng đồng số.

Cơ sở giáo dục phổ thông xây dựng kế hoạch và thực hiện nội dung giáo dục an toàn mạng toàn diện theo kế hoạch giáo dục nhà trường, kế hoạch tổ chức dạy học môn học, hoạt động giáo dục, kế hoạch bài dạy, quy tắc ứng xử số của nhà trường, lớp học và đánh giá định kỳ.

Việc xác định 8 nhóm chủ đề tạo ra một khung nội dung tương đối toàn diện, từ kỹ năng tiếp nhận thông tin đến bảo vệ dữ liệu, sức khỏe số, AI và khả năng phục hồi sau sự cố. Tuy nhiên, hiệu quả sẽ phụ thuộc nhiều vào cách các cơ sở giáo dục lựa chọn và sắp xếp nội dung.

An toàn mạng đối với học sinh tiểu học không thể được triển khai giống học sinh THCS hay THPT. Tương tự, nội dung về AI, quyền riêng tư, bản quyền hay sức khỏe số cần được điều chỉnh theo độ tuổi, trải nghiệm và khả năng nhận thức. Vì vậy, khung chung chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành những tình huống học tập cụ thể, vừa sức và sát với môi trường số mà học sinh đang sử dụng.

Bên cạnh đó, Bộ GDĐT yêu cầu tổ chức dạy học môn Tin học theo Chương trình giáo dục phổ thông; đồng thời tăng cường lồng ghép, tích hợp các nội dung về an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, đạo đức số, sử dụng công nghệ và AI an toàn, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và yêu cầu cần đạt của môn học theo từng cấp học.

Các cơ sở giáo dục lồng ghép nội dung giáo dục an toàn mạng toàn diện trong các môn học và hoạt động giáo dục có liên quan theo hướng phù hợp, thiết thực, tránh quá tải, khiên cưỡng hoặc hình thức.

Các nhà trường có thể tổ chức hoạt động trải nghiệm, sinh hoạt lớp, sinh hoạt dưới cờ, diễn đàn học sinh, cuộc thi truyền thông, dự án nhỏ, câu lạc bộ công nghệ số, STEM/STEAM, AI, diễn tập xử lý tình huống số; hoạt động của buổi thứ hai đối với cơ sở giáo dục tổ chức dạy học 2 buổi/ngày. Các hoạt động không tổ chức thêm ngoài kế hoạch giáo dục nhà trường đã được phê duyệt.

Đối với học sinh gặp rủi ro số, các cơ sở giáo dục triển khai tư vấn học đường và hỗ trợ cá nhân, nhóm; thiết lập kênh báo cáo thân thiện, bí mật, dễ tiếp cận; tổ chức hoạt động phục hồi, hỗ trợ tâm lý và phòng ngừa tái diễn.

Nhà trường đồng thời phối hợp với gia đình học sinh để hướng dẫn quản lý thiết bị, dữ liệu, thời gian sử dụng Internet, sử dụng AI và xử lý khi học sinh gặp sự cố số.

Bộ GDĐT khuyến khích xã hội hóa, hợp tác với cơ sở giáo dục đại học, cơ sở nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ, chuyên gia an toàn thông tin, chuyên gia tâm lý, cơ quan công an, y tế, đoàn thể, tổ chức bảo vệ trẻ em theo các quy định của pháp luật.

Việc đa dạng hóa hình thức tổ chức giúp giáo dục an toàn mạng có thể được đưa vào những không gian giáo dục quen thuộc với học sinh. Tuy nhiên, yêu cầu “không quá tải, khiên cưỡng hoặc hình thức” cần được xem là nguyên tắc quan trọng trong quá trình triển khai. Không phải hoạt động nào có yếu tố công nghệ cũng đồng nghĩa với giáo dục an toàn mạng hiệu quả; giá trị nằm ở việc học sinh thực sự được đặt vào tình huống, được suy nghĩ, lựa chọn cách xử lý và rút ra kinh nghiệm.

Đặc biệt, việc thiết lập kênh báo cáo thân thiện, bí mật và dễ tiếp cận có ý nghĩa trong xử lý các sự cố số liên quan đến học sinh. Nhiều rủi ro trên môi trường mạng không chỉ là vấn đề kỹ thuật mà còn liên quan đến tâm lý, quan hệ bạn bè và quyền riêng tư. Một cơ chế tiếp nhận phù hợp sẽ giúp học sinh chủ động tìm kiếm hỗ trợ thay vì im lặng hoặc tự xử lý khi sự cố đã trở nên nghiêm trọng.

Sự phối hợp với gia đình cũng cần đi vào những vấn đề cụ thể như thời gian sử dụng Internet, quản lý thiết bị, dữ liệu cá nhân, sử dụng AI và cách ứng phó khi có sự cố. Cùng với đó, sự tham gia của chuyên gia, cơ quan công an, y tế, tổ chức bảo vệ trẻ em và doanh nghiệp công nghệ có thể bổ sung nguồn lực chuyên môn cho nhà trường, nhưng cần được thực hiện theo đúng quy định và phù hợp với mục tiêu giáo dục.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận