Thứ Sáu , 27/02/2026 , 09:24:45 GMT+7

Giáo dục tăng tốc chuyển đổi số, thúc đẩy khoa học và đổi mới sáng tạo

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Tư, 14/01/2026, 11:13:51 GMT+7

Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và thúc đẩy chuyển đổi số trong ngành Giáo dục đang trở thành xu thế tất yếu trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và hội nhập quốc tế sâu rộng. Bước sang năm 2026, trên nền tảng những kết quả đã đạt được trong giai đoạn 2021 – 2025, ngành Giáo dục đang đứng trước cơ hội lớn để tăng tốc, chuyển từ giai đoạn “xây nền” sang “khai thác chiều sâu”, đưa khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo thực sự trở thành trụ cột phát triển bền vững.

Dấu ấn từ giai đoạn 2021 – 2025: Tạo nền tảng cho chuyển đổi số giáo dục
Trong năm 2025, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) tiếp tục triển khai thực hiện Đề án "Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030" ban hành. Đồng thời tổ chức triển khai Kế hoạch của Bộ GDĐT thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Tạp chí giáo dục
Nhiều cơ sở giáo dục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các tiết học. Ảnh: Báo Nhân dân
Một trong những điểm nhấn quan trọng là định hướng phát triển nguồn nhân lực khoa học – công nghệ theo hướng mở, liên ngành, tăng cường thực hành và gắn chặt với hệ sinh thái nghiên cứu – đổi mới sáng tạo. Bộ GDĐT đã tổ chức triển khai chuẩn hóa, hướng dẫn các cơ sở đào tạo tham gia Chương trình phát triển nhân lực bán dẫn; tiếp nhận đề xuất 62 chương trình đào tạo của 26 cơ sở giáo dục đại học, đồng thời thúc đẩy phát triển hệ thống trung tâm đào tạo xuất sắc và tài năng về công nghệ 4.0.
Song song với đó, Bộ GDĐT đã tổ chức triển khai các nhiệm vụ điều phối mạng lưới và từng bước hình thành cấu trúc liên kết đào tạo – nghiên cứu theo các lĩnh vực công nghệ ưu tiên thông qua việc công bố 13 mạng lưới do các cơ sở giáo dục đại học chủ trì. Các mạng lưới này kết nối khoảng 240 thành viên là cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu, doanh nghiệp trong và ngoài nước, tập trung vào các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, an ninh mạng, công nghệ giáo dục, vật liệu mới, công nghệ sinh học, năng lượng tái tạo, hạ tầng thông minh.
Kết quả bước đầu cho thấy các mạng lưới đã thúc đẩy chia sẻ nguồn lực đào tạo - nghiên cứu, đề xuất chương trình liên ngành, kết nối doanh nghiệp tham gia thực tập, dự án và đặt hàng nghiên cứu, đồng thời lan tỏa nhận thức xã hội về đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với đổi mới sáng tạo.
Cơ sở dữ liệu và nền tảng số: Trụ cột của chuyển đổi số ngành Giáo dục
Một chuyển biến rõ nét trong giai đoạn vừa qua là việc thúc đẩy mô hình hợp tác “Nhà nước – Nhà trường – Doanh nghiệp”. Thông qua công tác hoàn thiện cơ chế, chính sách và chỉ đạo triển khai tại các cơ sở giáo dục đại học, mối liên kết giữa đào tạo – nghiên cứu – thị trường lao động ngày càng chặt chẽ hơn.
Các trường đại học, đặc biệt là các đại học trọng điểm, đã chủ động mở rộng hợp tác với doanh nghiệp và địa phương trong đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Nhiều hợp đồng nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với giá trị lớn đã được ký kết; các diễn đàn, hội thảo kết nối đại học - doanh nghiệp được tổ chức thường xuyên, góp phần lan tỏa chính sách và hình thành danh mục các bài toán nghiên cứu, đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp.

Trong quá trình triển khai chuyển đổi số, Bộ GDĐT đã tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu trọng yếu theo Kế hoạch số 02-KH/BCĐTW và Nghị quyết số 71/NQ-CP, bảo đảm tiến độ và yêu cầu “đúng - đủ - sạch - sống”. Đối với Cơ sở dữ liệu trọng yếu ngành giáo dục, Bộ đã ban hành đầy đủ kế hoạch triển khai và các kế hoạch chi tiết; đồng thời đầu tư hạ tầng kỹ thuật, phần cứng, phần mềm và các giải pháp an toàn thông tin để xây dựng hai cấu phần trọng tâm là học bạ số và văn bằng số. Bước đầu đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, với hơn 10,3 triệu học bạ số và trên 1 triệu văn bằng số được tạo lập, từng bước tích hợp với VNeID, góp phần thay thế giấy tờ truyền thống và nâng cao chất lượng dịch vụ công.
Tạp chí giáo dục
Tăng cường xây dựng, hoàn thiện cơ sở dữ liệu ngành Giáo dục. Nguồn: Trường THCS Nguyễn Như Uyên

Hiện nay, Bộ GDĐT đang vận hành và hoàn thiện 5 cơ sở dữ liệu chuyên ngành, trong đó Cơ sở dữ liệu Giáo dục mầm non – phổ thông – thường xuyên và Cơ sở dữ liệu Giáo dục đại học đóng vai trò trung tâm. Hệ thống dữ liệu ngày càng được chuẩn hóa, kết nối thông suốt với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; cụ thể, cơ sở dữ liệu mầm non - phổ thông - thường xuyên đã số hóa khoảng 50.000 cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu hồ sơ học sinh, trên 1,4 triệu hồ sơ giáo viên và hơn 115.000 hồ sơ cán bộ quản lý; cơ sở dữ liệu Giáo dục đại học (Hemis) đã thu thập dữ liệu của 479 cơ sở đào tạo, hơn 176 nghìn cán bộ, giảng viên và trên 4,13 triệu hồ sơ người học, phục vụ trực tiếp công tác tuyển sinh và đánh giá chất lượng cơ sở đào tạo. Những kết quả đo lường bằng con số này góp phần tạo nền tảng quan trọng cho quản lý, hoạch định chính sách và cung cấp dịch vụ công trong năm 2026 và các năm tiếp theo.

Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo: Động lực nâng cao chất lượng giáo dục đại học
Giai đoạn 2021 – 2025 cũng ghi nhận sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Số lượng các công trình khoa học công bố quốc tế của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam ngày càng tăng; nhiều công trình, sản phẩm nghiên cứu khoa học được chuyển giao công nghệ, ứng dụng hiệu quả trong thực tiễn. Theo cơ sở dữ liệu của Elsevier, tổng số công bố khoa học của Việt Nam trong danh mục Scopus năm 2024 là 22.504 bài, tăng 16% so với 2023; trong đó số bài đứng tên các cơ sở giáo dục đại học của Việt Nam chiếm xấp xỉ 85%.
Nhiều nhóm nghiên cứu mạnh đã thu hút đầu tư từ doanh nghiệp để phát triển phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu trong các trường đại học, đặc biệt đối với các trường đại học thuộc khối kỹ thuật như Đại học Bách khoa Hà Nội, Trường Đại học Bách khoa Đà Nẵng… Hoạt động hợp tác quốc tế, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo trong sinh viên cũng ngày càng sôi động, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín học thuật của các cơ sở giáo dục đại học Việt Nam.
Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm là kết quả nghiên cứu của các lĩnh vực như vật liệu mới, cơ khí, điện tử, tự động hóa, nhiệt - lạnh, y - sinh, các chế phẩm sinh học, các sản phẩm nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường… đã được chuyển giao cho doanh nghiệp, thương mại hóa và phục vụ trực tiếp đời sống, góp phần phát triển kinh tế, xã hội.
Nhìn chung, những kết quả đạt được trong giai đoạn 2021 – 2025 cho thấy chuyển đổi số, phát triển khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo trong ngành Giáo dục đã đi đúng hướng và tạo được nền tảng quan trọng: hạ tầng công nghệ thông tin, nền tảng số phục vụ quản lý và tổ chức hoạt động dạy học được tăng cường; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong quản trị cơ sở giáo dục, xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, phát triển học liệu số, vận dụng linh hoạt hình thức tổ chức dạy học trực tuyến… góp phần nâng cao hiệu quả quản lý và chất lượng đào tạo.
Tuy nhiên, bước sang năm 2026, chuyển đổi số trong ngành Giáo dục cần khai thác hiệu quả dữ liệu, gắn công nghệ với đổi mới phương pháp dạy – học, quản trị và đánh giá chất lượng giáo dục. Tương tự, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo chỉ thực sự phát huy vai trò khi được kết nối chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và thị trường lao động. Bên cạnh đó, cùng với đầu tư hạ tầng và hoàn thiện thể chế, cần tiếp tục đổi mới tư duy quản trị giáo dục, trao quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình cho các cơ sở đào tạo, đồng thời thúc đẩy mạnh mẽ liên kết giữa Nhà nước – nhà trường – doanh nghiệp. Chỉ khi đó, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo mới thực sự trở thành động lực nâng cao chất lượng giáo dục và đóng góp bền vững cho mục tiêu phát triển quốc gia trong kỷ nguyên số.
Tài liệu tham khảo:
https://moet.gov.vn/tin-tuc/tin-tong-hop2/nganh-giao-duc-tong-ket-nhiem-ki-2021-2025-dinh-huong-giai-doan-2026-2030.html?categoryId=101914884

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận