Thứ Bảy , 31/10/2026 , 20:50:03 GMT+7

Học để thoát nghèo: Khi con chữ và tay nghề trở thành sinh kế

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Bảy, 31/10/2026, 08:11:57 GMT+7

Giáo dục giúp người nghèo có tri thức, kỹ năng và cơ hội việc làm, chặn nghèo đói truyền qua các thế hệ. Khi gắn với mô hình sinh kế phù hợp, con chữ và tay nghề sẽ trở thành thu nhập ổn định.

Giáo dục – nền tảng để phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói

Thoát nghèo không chỉ là có thêm thu nhập trong một giai đoạn, mà còn là khả năng duy trì cuộc sống ổn định, chủ động trước những biến động và mở rộng cơ hội cho thế hệ tiếp theo. Trong hành trình ấy, giáo dục giữ vai trò quan trọng bởi giúp người dân tích lũy tri thức, hình thành kỹ năng và có thêm lựa chọn trong học tập, việc làm cũng như tổ chức cuộc sống.

Khi trẻ em phải rời trường học sớm để phụ giúp gia đình, cơ hội tiếp cận những công việc có thu nhập tốt hơn trong tương lai cũng bị thu hẹp. Với người trưởng thành, hạn chế về kiến thức, kỹ năng nghề và khả năng tiếp cận thông tin có thể khiến họ khó thay đổi phương thức sản xuất, tìm kiếm việc làm ổn định hoặc thích ứng trước biến động của thị trường. Nếu những bất lợi này kéo dài qua nhiều thế hệ, nghèo đói có nguy cơ trở thành vòng luẩn quẩn khó tháo gỡ.

Báo cáo Những khác biệt về đặc trưng kinh tế - xã hội và nghèo đa chiều trẻ em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, do Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) công bố tháng 12/2025 (UNICEF Việt Nam, 2025) cho thấy gần 1/3 trẻ em dân tộc thiểu số đang sống trong tình trạng nghèo đa chiều. Những thiếu hụt không chỉ nằm ở giáo dục mà còn liên quan đến y tế, nước sạch, vệ sinh, nhà ở và tiếp cận thông tin. Trẻ em thuộc các dân tộc rất ít người, sinh sống ở vùng sâu, vùng xa hoặc trong những hộ gia đình chịu nhiều bất lợi cùng lúc có nguy cơ nghèo đa chiều và bị loại trừ xã hội cao hơn.

Trong những năm qua, Nhà nước đã triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người học tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Một trong những văn bản đáng chú ý là Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 của Chính phủ (2025), có hiệu lực từ ngày 1/5/2025, quy định chính sách đối với trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên tại các địa bàn thuộc diện thụ hưởng và cơ sở giáo dục có người học được hưởng chính sách.

Từ năm 2025, đầu tư cho giáo dục vùng khó được nâng lên tầm chiến lược. Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị (2025) về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đặt yêu cầu ưu tiên nguồn lực cho giáo dục ở địa bàn khó khăn; Quốc hội ban hành Nghị quyết số 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ mầm non và học sinh phổ thông (Quốc hội, 2025). Theo chủ trương tại Thông báo số 81-TB/TW ngày 18/7/2025, 108 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới đã khởi công ngày 9/11/2025, giai đoạn 2 tiếp tục khởi công 121 trường ngày 19/3/2026 (TTXVN, 2026). Học sinh vùng khó vì thế có thêm điều kiện để ở lại trường lâu hơn.

Các chính sách hỗ trợ góp phần giảm bớt gánh nặng chi phí cho gia đình, tạo điều kiện để người học duy trì việc đến trường. Tuy nhiên, hiệu quả không chỉ được quyết định bởi mức hỗ trợ mà còn phụ thuộc vào khả năng tiếp cận, chất lượng triển khai và điều kiện học tập thực tế. Nếu trẻ em được hỗ trợ nhưng vẫn thiếu giáo viên, cơ sở vật chất hoặc môi trường học tập phù hợp, cơ hội phát triển năng lực vẫn có thể bị hạn chế.
“Quốc hội không chỉ cần biết bao nhiêu vốn được phân bổ và giải ngân, mà quan trọng hơn là sau 5 năm, 10 năm, đời sống người dân thay đổi thế nào, khoảng cách phát triển được thu hẹp bao nhiêu, chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa được nâng lên ra sao”.

Ông Bùi Văn Dũng, Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hóa

(Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam, 2026)
Bảo đảm quyền học tập không chỉ là đưa trẻ đến trường, mà là giúp các em học được và học hết chương trình.Với người nghèo, mỗi năm học được duy trì có thể mở rộng thêm lựa chọn cho tương lai; ngược lại, việc rời trường sớm có thể khiến những hạn chế về cơ hội tiếp tục kéo dài sang tuổi trưởng thành.

Tuy nhiên, giáo dục chỉ thực sự góp phần phá vỡ vòng luẩn quẩn nghèo đói khi những kiến thức và kỹ năng được chuyển hóa thành cơ hội phát triển cụ thể. Trẻ em cần được học tập để có thêm lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai; người trưởng thành cần cơ hội học nghề, cập nhật kỹ thuật và nâng cao năng lực tổ chức sản xuất. Quan trọng hơn, những năng lực đó phải được đặt trong điều kiện kinh tế phù hợp để người dân có thể áp dụng vào thực tế.

Từ đào tạo nghề đến mô hình sinh kế phù hợp

Giáo dục và đào tạo nghề tạo nền tảng để người dân thay đổi cách thức sản xuất, tìm kiếm việc làm và cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, có kiến thức hay được trang bị kỹ năng mới chỉ là điều kiện ban đầu. Để những thay đổi ấy giúp người dân thoát nghèo bền vững, điều quan trọng không kém là tìm ra mô hình sinh kế phù hợp với năng lực của từng người, điều kiện của từng hộ gia đình và lợi thế của mỗi địa phương.

Thực tế, không phải người nghèo nào cũng có cùng nhu cầu hoặc khả năng phát triển kinh tế. Có người phù hợp với sản xuất nông nghiệp, có người có thể học nghề để làm việc tại doanh nghiệp, trong khi những người khác có khả năng phát triển dịch vụ hoặc kinh doanh quy mô nhỏ. Ngay trong cùng một địa phương, sự khác biệt về đất đai, vốn, kinh nghiệm, sức lao động và khả năng tiếp cận thị trường cũng khiến hiệu quả của mỗi mô hình không giống nhau. Vì vậy, nếu hỗ trợ theo một cách thức đồng loạt, thiếu khảo sát nhu cầu và điều kiện thực tế, nguồn lực đầu tư có thể chưa phát huy hết tác dụng.

Một mô hình tại Lạng Sơn cho thấy việc lựa chọn sinh kế dựa trên lợi thế sản xuất của địa phương cần đi cùng hướng dẫn kỹ thuật và nâng cao năng lực cho người dân. Năm 2024, huyện Văn Lãng (cũ) triển khai 14 mô hình, dự án giảm nghèo, trong đó có trồng cây dược liệu tại xã Tân Tác với 18 hộ nghèo, cận nghèo tham gia; trồng hồng vành khuyên tại xã Hội Hoan; chăn nuôi bò sinh sản tại nhiều xã với 92 hộ nghèo, cận nghèo tham gia. Đây là những hướng sản xuất gắn với điều kiện tự nhiên và thế mạnh nông nghiệp tại địa phương (Báo Tiền Phong, 2026).

Tuy nhiên, hỗ trợ cây giống, con giống hay vốn đầu tư mới chỉ tạo điều kiện ban đầu. Để chuyển nguồn lực hỗ trợ thành sinh kế lâu dài, người dân cần được hướng dẫn kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, phòng trừ dịch bệnh, quản lý chi phí và tổ chức sản xuất phù hợp. Hoạt động tập huấn, chuyển giao kỹ thuật và học hỏi kinh nghiệm thực tế giúp người dân từng bước làm chủ quy trình sản xuất, chủ động xử lý những vấn đề phát sinh và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, kết nối tiêu thụ và theo dõi hiệu quả sau hỗ trợ là những khâu cần thiết để đánh giá mô hình có thực sự giúp các hộ tăng thu nhập, ổn định sinh kế và thoát nghèo hay không.

Nhìn từ góc độ giáo dục, bài học quan trọng không chỉ là lựa chọn cây trồng, vật nuôi phù hợp mà còn là bảo đảm người dân có đủ kiến thức và kỹ năng để phát triển mô hình. Khi đào tạo, hướng dẫn kỹ thuật gắn với điều kiện sản xuất thực tế và nhu cầu thị trường, hỗ trợ sinh kế mới có cơ sở để chuyển từ hoạt động ngắn hạn sang năng lực tự phát triển kinh tế của hộ gia đình.

Tạp chí giáo dục
Người dân tộc thiểu số ở Lạng Sơn đẩy mạnh sản xuất những sản vật sẵn có ở địa phương. Ảnh: Báo Tiền Phong.

Ở một hướng khác, mô hình vườn ươm cây giống quế của anh Phạm Văn Quyết, Bí thư Chi bộ thôn Củm Hạ 1, xã Cốc San, Lào Cai, cho thấy vai trò của việc tự học hỏi và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong phát triển sinh kế. Năm 2018, anh bắt đầu xây dựng vườn ươm trên diện tích 500 m². Trong quá trình sản xuất, dù gặp khó khăn về kỹ thuật ươm, chăm sóc cây giống và tìm đầu ra, anh vẫn kiên trì vừa làm vừa học hỏi, từng bước đầu tư máy móc, hệ thống tưới và áp dụng khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng cây giống, giảm công lao động (Báo Lào Cai, 2026).

Tạp chí giáo dục
Vườn ươm quế giống của anh Phạm Văn Quyết khởi đầu với diện tích 500 m² vào năm 2018. Ảnh: Báo Lào Cai.

Từ kinh nghiệm sản xuất ban đầu, năm 2021, anh Quyết chủ trì thành lập Hợp tác xã Cây giống Lào Cai, với 4 thành viên và khoảng 5.000 m² diện tích sản xuất. Đến nay, hợp tác xã có 8 thành viên, mở rộng quy mô lên 12.000 m², cung ứng khoảng 500.000 cây giống quế mỗi năm. Từ năm 2023 đến nay, doanh thu bình quân của hợp tác xã đạt trên 1,2 tỷ đồng/năm, lợi nhuận sau khi trừ chi phí khoảng 450 triệu đồng/năm. Mô hình tạo việc làm thường xuyên cho 6 lao động địa phương, với thu nhập bình quân 6–8 triệu đồng/người/tháng, đồng thời tạo việc làm thời vụ cho 12–15 lao động vào những thời điểm cao điểm sản xuất (Báo Lào Cai, 2026).

Không chỉ phát triển sản xuất, anh Quyết còn chia sẻ kinh nghiệm ươm, chăm sóc cây giống và sử dụng phân bón, hỗ trợ các hộ dân có nhu cầu trồng quế. Trường hợp này cho thấy học hỏi kỹ thuật không nhất thiết chỉ diễn ra trong các lớp đào tạo chính quy mà còn có thể thông qua thực hành, tích lũy kinh nghiệm và trao đổi kiến thức giữa những người sản xuất. Khi được kết hợp với khả năng tiếp cận thiết bị, tổ chức sản xuất và liên kết tiêu thụ, kiến thức thực hành có thể góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng quy mô và tạo thêm việc làm tại địa phương (Báo Lào Cai, 2026).

Từ các ví dụ trên có thể thấy, mô hình sinh kế hiệu quả cần được xây dựng trên cơ sở khảo sát điều kiện thực tế, lựa chọn đúng hoạt động sản xuất và xác định rõ cách thức hỗ trợ. Người dân không chỉ cần cây giống, con giống, công cụ sản xuất hay vốn ban đầu, mà còn cần được hướng dẫn kỹ thuật, tiếp cận thông tin thị trường, nâng cao năng lực quản lý chi phí và tìm đầu ra ổn định cho sản phẩm. Với người học nghề để tìm việc làm, hỗ trợ cần nối tiếp sau đào tạo là thông qua tư vấn nghề nghiệp, kết nối doanh nghiệp và theo dõi khả năng duy trì việc làm.

Định hướng này cũng phù hợp với yêu cầu phát triển giáo dục nghề nghiệp và việc làm bền vững trong Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025. Đào tạo không chỉ nhằm trang bị kỹ năng trước mắt mà còn hướng tới khả năng tham gia thị trường lao động, nâng cao năng suất và thích ứng lâu dài của người lao động. Bước sang giai đoạn 2026–2035, Nghị quyết số 46/2026/QH16 hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia thành một chương trình chung, tạo điều kiện để giáo dục, đào tạo nghề và hỗ trợ sinh kế được thiết kế đồng bộ hơn (Quốc hội, 2026).

Trong giai đoạn 2021–2025: Hơn 734.000 lượt cán bộ, lao động nghèo được tập huấn kỹ thuật và đào tạo nghề. Tỷ lệ lao động thuộc hộ nghèo có việc làm bền vững tăng thêm 12% so với giai đoạn 2016–2020. Cả nước đã triển khai trên 10.587 dự án hỗ trợ phát triển sản xuất cho hộ nghèo, cận nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số. Hơn 320.000 hộ đã được trực tiếp hưởng lợi từ các hình thức đa dạng: cấp giống cây trồng, vật nuôi, hỗ trợ phân bón, công cụ sản xuất (Bộ Nông nghiệp và Môi trường, 2025).

Tuy nhiên, số lượng mô hình lớn không đồng nghĩa mọi mô hình đều bảo đảm tính bền vững. Một số mô hình còn nhỏ lẻ, thiếu đầu ra hoặc phụ thuộc nhiều vào hỗ trợ bên ngoài. Điều đó cho thấy yêu cầu không chỉ là mở rộng số mô hình, mà còn phải nâng cao chất lượng tổ chức, năng lực của người tham gia và khả năng duy trì hoạt động sau khi kết thúc hỗ trợ.

Giáo dục và đào tạo cần gắn trực tiếp với mô hình sinh kế mà người dân lựa chọn. Người nuôi trâu cần kiến thức về chăm sóc, dinh dưỡng và phòng bệnh; người trồng cây dược liệu cần nắm kỹ thuật canh tác, thu hoạch và bảo quản; người kinh doanh nhỏ cần biết tính toán chi phí, quản lý dòng tiền và tiếp cận khách hàng. Khi nội dung học tập xuất phát từ yêu cầu thực tế, người dân có điều kiện áp dụng kiến thức ngay vào công việc và nhận thấy rõ lợi ích của việc học.

Kết quả nghiên cứu ủng hộ cách tiếp cận này. Phân tích dữ liệu hộ gia đình nông thôn Việt Nam cho thấy mỗi năm đi học thêm gắn với thu nhập bình quân đầu người của hộ cao hơn khoảng 4%; người có bằng nghề có thu nhập cao hơn khoảng 22–29% so với người không qua đào tạo chính quy (Vu, 2020). Với lao động dân tộc thiểu số, đào tạo nghề gắn với tiền lương cao hơn khoảng 40% (Do và cộng sự, 2020). Ở quy mô quốc tế, thử nghiệm tại sáu quốc gia với hơn 10.000 người tham gia cho thấy khi tài sản sản xuất đi cùng đào tạo kỹ thuật và hướng dẫn thường xuyên, thu nhập của các hộ cực nghèo vẫn được cải thiện sau khi chương trình kết thúc (Banerjee và cộng sự, 2015).

“Chính sách giảm nghèo tập trung vào cốt lõi là tạo sinh kế, tạo công ăn việc làm cho người dân. Chính sách cũng hướng tới tạo điều kiện để xóa được toàn bộ nhà tạm cho hộ nghèo; hỗ trợ người nghèo được sử dụng nước sạch nước hợp vệ sinh; chăm lo phòng, chống suy dinh dưỡng ở trẻ em…”


Ông Đào Ngọc Dung, Nguyên Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội

(Báo Chính phủ, 2023).




Đầu tư cho giáo dục vì thế không tách rời đầu tư cho sinh kế. Đó là quá trình giúp người dân học được điều cần thiết, làm được công việc phù hợp và từng bước tạo dựng cuộc sống bằng chính năng lực của mình. Khi trẻ em được tiếp tục học tập, người trưởng thành có cơ hội nâng cao kỹ năng và các mô hình sinh kế được thiết kế sát với điều kiện thực tế, giảm nghèo mới có thể trở thành hành trình phát triển lâu dài, hạn chế nguy cơ nghèo đói lặp lại qua nhiều thế hệ.

Nhìn tổng thể, chính sách đã kết nối giáo dục với giảm nghèo ở cả hai đầu: giữ trẻ em ở lại trường và trao kỹ năng cho người lớn. Chính sách hỗ trợ người học vùng khó theo Nghị định số 66/2025/NĐ-CP, miễn học phí theo Nghị quyết số 217/2025/QH15 và hệ thống trường nội trú liên cấp vùng biên giới đang tháo gỡ rào cản chi phí và khoảng cách (Chính phủ, 2025; Quốc hội, 2025; TTXVN, 2026). Giai đoạn mới tiếp tục hợp nhất các chương trình mục tiêu quốc gia để nguồn lực tập trung hơn (Quốc hội, 2026). Hướng đi này có cơ sở khoa học, khi học vấn và kỹ năng nghề gắn chặt với thu nhập của hộ (Vu, 2020).

Dù vậy, vẫn còn nhiều thách thức cần nỗ lực để vượt qua, đặc biệt là ở địa phương. Gần một phần ba trẻ em dân tộc thiểu số còn nghèo đa chiều, thiếu hụt nặng nhất ở tiếp cận thông tin, công nghệ số, vệ sinh và y tế (UNICEF Việt Nam, 2025). Nghiên cứu cũng cảnh báo lợi ích từ học vấn ở nông thôn nghiêng về các hộ khá giả hơn, nên nếu thiếu chính sách hướng đích, giáo dục có thể nới rộng chênh lệch thu nhập (Vu, 2020). Vì vậy, cần ưu tiên chất lượng dạy học ở trường nội trú, gắn đào tạo nghề với chính mô hình sinh kế của hộ và theo dõi việc học, việc làm của người học sau hỗ trợ. Về nghiên cứu, cần thêm các đánh giá dài hạn về tác động của giáo dục, đào tạo nghề tới khả năng thoát nghèo và chống tái nghèo của hộ dân tộc thiểu số.


Tài liệu tham khảo:

Banerjee, A., Duflo, E., Goldberg, N., Karlan, D., Osei, R., Parienté, W., Shapiro, J., Thuysbaert, B., & Udry, C. (2015). A multifaceted program causes lasting progress for the very poor: Evidence from six countries. Science, 348(6236), Article 1260799. https://doi.org/10.1126/science.1260799

Bộ Chính trị. (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn/toan-van-nghi-quyet-so-71-nq-tw-cua-bo-chinh-tri-ve-dot-pha-phat-trien-giao-duc-va-dao-tao-119250828110759964.htm

Chính phủ. (2025). Nghị định số 66/2025/NĐ-CP ngày 12/3/2025 quy định chính sách cho trẻ em nhà trẻ, học sinh, học viên ở địa bàn thuộc diện thụ hưởng và cơ sở giáo dục có người học hưởng chính sách. https://chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=213123

Báo Chính phủ. (2026). Những ‘hạt nhân’ kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi. https://baochinhphu.vn/nhung-hat-nhan-kinh-te-vung-dong-bao-dan-toc-thieu-so-mien-nui-102260910000442673.htm

Do, H. T. H., Mai, C. N., Mai, A. N., Nguyen, N. D., Pham, T. N., Le, H. T. T., Tran, M. D., & Vu, T. T. (2020). Impact of vocational training on wages of ethnic minority labors in Vietnam. The Journal of Asian Finance, Economics and Business, 7(6), 551–560. https://doi.org/10.13106/jafeb.2020.vol7.no6.551

Quốc hội. (2025). Nghị quyết số 217/2025/QH15 về miễn, hỗ trợ học phí cho trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông tại cơ sở giáo dục. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=214401

Quốc hội. (2026). Nghị quyết số 46/2026/QH16 ngày 24/8/2026 phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa – xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026–2035. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=219332

TTXVN. (2026, ngày 22 tháng 8). Triển khai Nghị quyết 71: Nỗ lực thể chế hóa, xây trường nội trú vùng biên. VietnamPlus. https://www.vietnamplus.vn/trien-khai-nghi-quyet-71-no-luc-the-che-hoa-xay-truong-noi-tru-vung-bien-post1131700.vnp

UNICEF Việt Nam. (2025). Những khác biệt về đặc trưng kinh tế – xã hội và nghèo đa chiều trẻ em trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. https://www.unicef.org/vietnam/vi/documents/nhung-khac-biet-ve-dac-trung-kinh-te-xa-hoi-va-ngheo-da-chieu-tre-em-trong-cong-dong-cac

Vu, H. V. (2020). The impact of education on household income in rural Vietnam. International Journal of Financial Studies, 8(1), Article 11. https://doi.org/10.3390/ijfs801001

Báo Chính phủ. (2023) Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Chủ động ứng phó rủi ro để lưới an sinh bền vững, toàn diện https://baochinhphu.vn/bo-truong-dao-ngoc-dung-chu-dong-ung-pho-rui-ro-de-luoi-an-sinh-ben-vung-toan-dien-102230120190333808.htm

Cổng Thông tin điện tử Quốc hội Việt Nam. (2026) Tích hợp 4Chương trình mục tiêu quốc gia một cách thực chất, đảm bảo nguồn lực được phân bổ có trọng tâm, trọng điểm https://quochoi.vn/Pages/PageNotFoundError.aspx?requestUrl=https://quochoi.vn/pho-chu-tich/Pages/pct-thuong-truc-do-van%20chien.aspx

Bộ Nông nghiệp và Môi trường. (2025). Sinh kế xanh cho hộ nghèo - Chìa khóa bền vững cho hộ nghèo https://mae.gov.vn/Chuyentranggiamngheo/Pages/chi-tiet-tin-tuc.aspx?ItemID=124

Báo Lào Cai. (2026) Đảng viên đi trước – Dẫn lối phát triển kinh tế https://baolaocai.vn/dang-vien-di-truoc-dan-loi-phat-trien-kinh-te-post909166.html?utm_source=chatgpt.com

Báo Tiền Phong. (2025). Đa dạng hóa các mô hình giảm nghèo ở xứ Lạng https://tienphong.vn/da-dang-hoa-cac-mo-hinh-giam-ngheo-o-xu-lang-post1758654.tpo

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận