Chỉ thị số 37-CT/TW ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư (Ban Bí thư, 2024) yêu cầu đổi mới đào tạo nghề cho lao động nông thôn, coi trọng thực hành và gắn với nhu cầu việc làm. Văn bản ghi nhận, sau 10 năm thực hiện Chỉ thị số 19-CT/TW, gần 10 triệu lao động nông thôn được học nghề, gần 4,6 triệu người được hỗ trợ đào tạo; 2,1 triệu người thuộc các nhóm chính sách được hỗ trợ học nghề.
Quyết định số 328/QĐ-TTg ngày 24/2/2026 của Thủ tướng Chính phủ (Thủ tướng Chính phủ, 2026)phê duyệt Chương trình “Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030”. Chương trình đặt mục tiêu bình quân mỗi năm đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng kỹ năng cho khoảng 1,5 triệu lao động; nghề phi nông nghiệp chiếm khoảng 70%, nghề nông nghiệp và ngành nghề nông thôn khoảng 30%; tỷ lệ có việc làm sau đào tạo đạt trên 85%. Những con số này cho thấy quy mô đáng kể của hoạt động đào tạo nghề, đồng thời đặt ra yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng tạo việc làm sau đào tạo.
Chuyển đổi xanh đặt thêm yêu cầu cho hướng nghiệp và đào tạo nghề ở nông thôn. Người học cần biết sử dụng tiết kiệm tài nguyên, giảm chất thải và đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm. Với hộ nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người khuyết tật, cơ hội chỉ trở thành sinh kế khi khóa học phù hợp khả năng tiếp cận, có nơi thực hành và có thị trường tiêu thụ. Không nên mặc định mọi việc làm trong nông nghiệp hay du lịch đều là việc làm xanh.
Từ kinh nghiệm quốc tế đến tư duy đào tạo nghề xanh
Chia sẻ về vấn đề này tại Hội thảo chuyên đề “Hợp tác giáo dục nghề nghiệp: Xây dựng hệ sinh thái chuyển đổi số gắn kết hệ sinh thái giáo dục với hệ sinh thái việc làm”, , PGS.TS Nguyễn Đình Thọ - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho rằng cần chuẩn bị nguồn nhân lực trước những thay đổi của cuộc Cách mạng công nghiệp mới và làn sóng chuyển đổi xanh toàn cầu. Định hướng bao gồm tích hợp tiêu chuẩn ESG (bộ ba tiêu chuẩn dùng để đo lường mức độ phát triển bền vững và các tác động của một doanh nghiệp đối với xã hội và môi trường) vào đào tạo, phát triển thiết kế sinh thái và thực hành kinh tế tuần hoàn, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia đào tạo thông qua các cơ chế hỗ trợ chi phí đào tạo kép.
Đồng thời, ông cũng đề xuất, tham khảo để điều chỉnh đổi mới hợp tác giáo dục nghề nghiệp theo tiêu chuẩn của Đức, Nhật Bản và UAE. Một trong những kinh nghiệm đáng tham khảo là mô hình đào tạo nghề kép của Đức. Mô hình này kết hợp học tập tại cơ sở đào tạo với thực hành tại doanh nghiệp, giúp người học tiếp cận môi trường làm việc thực tế, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp tham gia xây dựng và cập nhật nội dung đào tạo. Khi yêu cầu về tiết kiệm năng lượng, giảm chất thải và sử dụng nguyên liệu hiệu quả ngày càng được coi trọng, việc tích hợp kỹ năng xanh vào các nghề hiện hữu cũng trở nên cần thiết. Giá trị của mô hình Đức không chỉ nằm ở phương thức đào tạo mà còn ở sự liên kết giữa nhà trường, doanh nghiệp và thị trường lao động. Đối với người học thuộc hộ nghèo, việc được thực hành trong môi trường sản xuất thực tế, tiếp cận yêu cầu tuyển dụng và có cơ hội làm việc sau tốt nghiệp giúp giảm nguy cơ học xong nhưng không tìm được việc làm. Đây cũng là gợi ý để Việt Nam chuyển từ đào tạo theo số lượng người tham gia sang đào tạo dựa trên năng lực thực tế và kết quả việc làm.
Kinh nghiệm của Đức gợi mở cách đưa yêu cầu xanh vào chính các nghề đang có. Theo Weinert và Giessler (Katharina Weinert & Thomas Giessler, 2021), nội dung “bảo vệ môi trường và phát triển bền vững” trở thành yêu cầu tối thiểu trong các nghề đào tạo kép được xây dựng mới hoặc cập nhật, có hiệu lực từ ngày 1/8/2021. Đào tạo kép kết hợp học ở trường nghề với đào tạo tại doanh nghiệp. Bài học đáng chú ý là xác định rõ người học phải làm được việc gì, rồi để cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cùng tổ chức thực hành, đánh giá kết quả.
Nghiên cứu ở Hy Lạp cho thấy kỹ năng xanh có thể được dạy bằng nhiệm vụ nghề cụ thể. Một nghiên cứu (Nikoloudakis & Rangoussi, 2024) tổ chức cho học sinh nghề điện – điện tử tháo, kiểm tra và tái sử dụng linh kiện từ thiết bị hỏng. Kết quả thí điểm ghi nhận tiến bộ về kiến thức và một số mặt xã hội, cảm xúc. Quy mô nhỏ và thiếu bằng chứng theo dõi việc làm khiến kết quả chỉ có giá trị gợi mở; không thể từ đó khẳng định đào tạo xanh làm tăng thu nhập của hộ nghèo.
Với nông nghiệp quy mô nhỏ, nội dung đào tạo có thể bắt đầu từ những việc gần nhu cầu sản xuất: tiết kiệm nước, sử dụng phân bón phù hợp, xử lý phụ phẩm và ghi chép truy xuất nguồn gốc. Đây là hướng đề xuất cho chương trình tại địa phương, cần được kiểm tra bằng chi phí áp dụng, đầu ra sản phẩm và năng lực của người học. Thu nhập còn phụ thuộc giá bán, vốn và tổ chức sản xuất, chứ không chỉ vào kỹ năng.
Từ các kinh nghiệm trên, có thể rút ra một nguyên tắc: đào tạo nghề xanh cần gắn ba yếu tố là nhu cầu thực tế của thị trường lao động, điều kiện phát triển của địa phương và khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế. Không thể sao chép nguyên trạng mô hình nước ngoài, nhưng có thể vận dụng những nguyên tắc cốt lõi để xây dựng các chương trình phù hợp với từng vùng, từng nhóm đối tượng.
Gắn kỹ năng xanh với sinh kế tại cộng đồng
Hướng nghiệp xanh ở địa bàn khó khăn cần bắt đầu từ công việc có nhu cầu tại cộng đồng. Có thể xem xét dịch vụ sửa chữa, thu gom và phân loại chất thải, du lịch cộng đồng hoặc xử lý phụ phẩm nông nghiệp, tùy thị trường và điều kiện địa phương. Mỗi lĩnh vực có yêu cầu kỹ thuật, an toàn và tổ chức kinh doanh riêng. Kỹ năng số nên được lồng ghép vào việc thực tế như ghi chép chi phí, tìm khách hàng và tra cứu quy trình sản xuất.
Bằng chứng trong nước cho thấy cần gắn nội dung xanh với năng lực tổ chức đào tạo. Nghiên cứu khảo sát 15 cơ sở giáo dục nghề nghiệp, 30 nhà giáo/chuyên gia, 36 doanh nghiệp và 133 người lao động trong tháng 4–6/2026. Các cơ sở được khảo sát đều cho biết đã tích hợp kỹ năng xanh vào mô-đun hiện có và đào tạo gắn với thực hành doanh nghiệp (Phùng Lê Khanh et al., 2026). Kết quả phản ánh nhóm tham gia khảo sát; bài báo chưa cung cấp căn cứ để coi đây là tỷ lệ đại diện cho cả nước hoặc bằng chứng đào tạo đã làm giảm nghèo.
Liên kết doanh nghiệp cũng cần được nhìn từ cả hai phía. Khảo sát tại Việt Nam của cho thấy 391 trong 700 doanh nghiệp tham gia có hợp tác với cơ sở giáo dục nghề nghiệp. Nghiên cứu tập trung vào cập nhật kỹ năng, công nghệ và hợp tác đào tạo, không trực tiếp đo hiệu quả giảm nghèo của nghề xanh (Uyen & Thu, 2023). Đặt cạnh nghiên cứu trong nước nói trên, kết quả gợi ý phải khảo sát từng nhóm doanh nghiệp và từng nghề, thay vì giả định có đối tác thực hành ngay khi mở lớp.
Quyết định số 328/QĐ-TTg tạo cơ sở triển khai đổi mới đào tạo nghề nông thôn; hiệu quả của hướng đào tạo xanh còn phụ thuộc cách tổ chức thực hiện. Theo PGS.TS Nguyễn Đình Thọ, để giải quyết bài toán này, cần thúc đẩy hợp tác ba bên giữa Chính phủ, doanh nghiệp và cơ sở giáo dục. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và cơ chế hỗ trợ; doanh nghiệp tham gia xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn kỹ năng và tạo môi trường thực hành; còn cơ sở đào tạo chủ động đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy và đánh giá năng lực người học. Mô hình vừa học vừa làm cần được mở rộng để người học không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn có cơ hội rèn luyện kỹ năng tại nơi làm việc, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa đào tạo và tuyển dụng.

Cách tiếp cận này đòi hỏi chương trình đào tạo phải linh hoạt hơn, có khả năng cập nhật nhanh trước những thay đổi của công nghệ và thị trường. Doanh nghiệp không nên chỉ tham gia ở khâu tiếp nhận lao động sau tốt nghiệp, mà cần đồng hành ngay từ quá trình thiết kế chương trình, xác định kỹ năng đầu ra và tổ chức thực hành. Đồng thời, việc tăng quyền chủ động cho cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ giúp các đơn vị điều chỉnh nội dung đào tạo phù hợp với đặc điểm kinh tế - xã hội của từng địa phương và nhu cầu của từng nhóm người học.
Đáng chú ý, mô hình đào tạo được PGS.TS Nguyễn Đình Thọ đề cập hướng tới tỷ lệ 70-20-10, trong đó 70% thời lượng tập trung vào trải nghiệm và giải quyết vấn đề thực tế, 20% dành cho học tập thông qua tương tác, cố vấn của chuyên gia và đồng nghiệp, còn 10% dành cho kiến thức lý thuyết có tính hệ thống. Đây có thể xem là một gợi ý để tăng cường tính thực hành trong giáo dục nghề nghiệp, nhất là đối với những chương trình đào tạo kỹ năng xanh, dịch vụ môi trường, nông nghiệp sinh thái và du lịch cộng đồng.

Tỷ lệ 70–20–10 nêu trên chỉ nên được xem như gợi ý tham khảo, thực tế cần phụ thuộc vào từng chương trình học cụ thể. Điều cần ưu tiên là nhiệm vụ thực hành phù hợp từng nghề, người hướng dẫn đủ năng lực và cách đánh giá người học làm được việc gì. Các nghề liên quan điện, thiết bị hoặc chất thải phải đáp ứng yêu cầu an toàn, không rút ngắn kiến thức nền chỉ để tăng tỷ trọng trải nghiệm.
Lộ trình học tập cần giúp người học tích lũy kỹ năng và quay lại học khi cần. Có thể tổ chức từ kiến thức nền, thực hành có hướng dẫn đến đánh giá bằng sản phẩm hoặc nhiệm vụ nghề. Chứng chỉ vi mô chỉ có ý nghĩa với người học khi đơn vị cấp, chuẩn đầu ra, giá trị công nhận và khả năng liên thông được xác định rõ. Việc áp dụng cần có căn cứ phù hợp với từng chương trình.
Kinh nghiệm quốc tế gợi ý bắt đầu từ chuẩn kỹ năng và nơi thực hành, nhưng phải điều chỉnh theo điều kiện người học. Ở Đức, đào tạo kép dựa vào doanh nghiệp tham gia đào tạo và chuẩn nghề; với nhiều lao động nông thôn Việt Nam, nơi làm việc lại là hộ gia đình, hợp tác xã hoặc cơ sở nhỏ. Vì vậy, bài học phù hợp là cùng xác định nhiệm vụ nghề và tiêu chí đánh giá, thay vì sao chép cách chia thời gian học. Thí điểm tái sử dụng linh kiện ở Hy Lạp cũng cho thấy cần vật tư, người hướng dẫn và kiểm soát an toàn trước khi mở rộng. Hai kinh nghiệm hỗ trợ hướng gắn đào tạo với sản xuất trong Chỉ thị số 37-CT/TW, nhưng chưa chứng minh một khóa học sẽ tạo việc làm bền vững. Khoảng cách từ kỹ năng đến sinh kế còn nằm ở vốn, đơn hàng và khả năng tổ chức làm ăn.
Để thu hẹp khoảng cách đó, địa phương nên ưu tiên một số nghề đã xác định được khách hàng hoặc đơn vị tuyển dụng. Cơ sở đào tạo cùng doanh nghiệp, hợp tác xã thiết kế nhiệm vụ thực hành, bố trí người hướng dẫn và thống nhất mức năng lực cần đạt. Kinh phí cần tính cả vật tư, bồi dưỡng giáo viên và hỗ trợ tiếp cận cho người ở xa, người khuyết tật hoặc người phải chăm sóc gia đình. Có thể thí điểm theo dõi học viên sau 3 và 6 tháng về việc làm, thu nhập, chi phí sản xuất và khả năng áp dụng kỹ năng; tách kết quả theo nhóm người học để điều chỉnh hỗ trợ. Đây là đề xuất triển khai của bài, cần cân đối nguồn lực trước khi nhân rộng. Nghiên cứu tiếp theo nên kiểm tra tác động dài hạn với nhóm so sánh phù hợp, tránh coi số người hoàn thành khóa học là bằng chứng duy nhất về giảm nghèo.
Tài liệu tham khảo:
Ban Bí thư. (2024). Chỉ thị số 37-CT/TW, ngày 10/7/2024 của Ban Bí thư về đổi mới công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn. tulieuvankien.dangcongsan.vn. http://tulieuvankien.dangcongsan.vn/he-thong-van-ban/van-ban-cua-dang/chi-thi-so-37-cttw-ngay-1072024-cua-ban-bi-thu-ve-doi-moi-cong-tac-dao-tao-nghe-cho-lao-dong-nong-thon-dap-ung-10549
Katharina Weinert & Thomas Giessler. (2021). “Environmental protection and sustainability” – a new standard in vocational education and training: Interview with the Board’s Working Group chairs Katharina Weinert and Thomas Giessler. BIBB - Startseite. https://www.bwp-zeitschrift.de/de/index.php
Nikoloudakis, N., & Rangoussi, M. (2024). Introducing Green, Eco-Friendly Practices and Circular Economy Principles in Vocational Education Through a Novel Analysis-Synthesis Method: Design, Implementation and Evaluation. International Journal for Research in Vocational Education and Training, 11(3), 429–459. https://doi.org/10.13152/IJRVET.11.3.5
Phùng Lê Khanh, Nguyễn Quang Hưng, & Hoàng Việt Khánh. (2026). Giải pháp đào tạo kỹ năng xanh trong giáo dục nghề nghiệp | Tạp chí Quản lý nhà nước. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/09/24/giai-phap-dao-tao-ky-nang-xanh-trong-giao-duc-nghe-nghiep/
Thủ tướng Chính phủ. (2026). Quyết định số 328/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ: Phê duyệt Chương trình ‘Đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nghề nông thôn đến năm 2030’. http://vanban.chinhphu.vn/?pageid=27160&docid=217012
Uyen, V., & Thu, P. X. (2023). Updating new skills and technologies in training programs: A case study in Vietnam. World Journal on Educational Technology: Current Issues, 15(4), 411–428. https://doi.org/10.18844/wjet.v15i4.8860