Thứ Hai , 13/04/2026 , 22:25:46 GMT+7

Phát triển giáo dục nghề nghiệp theo chiều sâu chính sách để bứt phá trong kỷ nguyên số

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 05/03/2026, 11:38:58 GMT+7

Trước những biến động mạnh mẽ của thị trường lao động và làn sóng chuyển đổi số, giáo dục nghề nghiệp cần phát triển theo mô hình mới. Muốn thực sự trở thành trụ cột cung ứng nhân lực kỹ thuật chất lượng cao, hệ thống này cần được tái định vị bằng tư duy chính sách ổn định, liên thông và gắn chặt với chiến lược phát triển kinh tế quốc gia.

Cách đây một thập kỷ, bài toán của giáo dục nghề nghiệp chủ yếu là vấn đề quy mô: làm sao tuyển đủ người học, mở đủ ngành nghề, phủ rộng mạng lưới cơ sở đào tạo. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện tại, vấn đề đặt ra là làm sao đào tạo được lực lượng lao động có khả năng làm chủ công nghệ cao, thích ứng với trí tuệ nhân tạo, tự động hóa và kinh tế số.
Thưc tế cho thấy, nhiều nghề truyền thống đang thu hẹp dần, trong khi các ngành nghề mới đòi hỏi nền tảng kiến thức liên ngành và kỹ năng công nghệ ở mức cao. Nếu không thay đổi theo chiều sâu chính sách, giáo dục nghề nghiệp khó theo kịp nhịp phát triển của nền kinh tế.
Phát triển theo chiều sâu chính sách
Bước vào năm 2026, giáo dục Việt Nam đang đứng trước một thế và lực mới, trong đó lợi thế lớn nhất chính là sức mạnh của thể chế. Việc đổi mới toàn diện hệ thống thể chế, chính sách theo hướng trao quyền nhiều hơn cho cơ sở đào tạo đã mở ra không gian rộng lớn để ngành triển khai những ý tưởng và cách làm mới, sát thực tiễn hơn.
Từ ngày 01/01/2026, 4 luật và nghị quyết về chính sách đặc thù, vượt trội trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo chính thức có hiệu lực, được kỳ vọng tạo ra những thay đổi lớn cho toàn ngành. Trong đó, giáo dục nghề nghiệp được xem là một trong những lĩnh vực chịu tác động trực tiếp và rõ nét nhất từ các thay đổi thể chế này.
Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý mà còn đặt ra yêu cầu các cơ sở phải chủ động nắm bắt vận hội, bắt nhịp, không để lỡ thời cơ phát triển. Nhìn lại một năm chuyển động của giáo dục nghề nghiệp, có thể thấy đây là giai đoạn chuẩn bị nền tảng quan trọng, cả về thể chế lẫn thực tiễn triển khai ở cơ sở. Phát triển theo chiều sâu chính sách trước hết là xây dựng chiến lược dài hạn dựa trên dự báo cơ cấu lao động quốc gia. Đào tạo không thể chạy theo nhu cầu ngắn hạn của từng địa phương hay từng doanh nghiệp riêng lẻ, mà phải bám sát định hướng phát triển các ngành công nghệ cao, công nghiệp chế biến - chế tạo, kinh tế xanh, kinh tế số.
Thị trường lao động đang chuyển dịch từ lao động đơn giản sang lao động kỹ thuật cao. Điều này đòi hỏi hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải nâng chuẩn đào tạo, cập nhật chương trình đầu tư thiết bị hiện đại và đặc biệt là phát triển đội ngũ giảng viên có năng lực công nghệ.
Ổn định mô hình quản lý và xoá bỏ định kiến xã hội
Một hệ thống muốn phát triển bền vững cần sự ổn định về thể chế. Trong lịch sử phát triển, giáo dục nghề nghiệp đã nhiều lần thay đổi cơ quan chủ quản và cơ cấu tổ chức. Mỗi lần thay đổi là một lần điều chỉnh chính sách, chức năng, nhiệm vụ. Việc thiếu tính ổn định lâu dài khiến chiến lược khó được thực thi liên tục. Các chương trình cải cách chưa kịp đi vào chiều sâu đã phải thích ứng với cơ chế mới.
Tạp chí giáo dục
GS.TS Phạm Tất Dong (Nguồn: Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Ở góc nhìn chuyên gia, GS.TS Phạm Tất Dong - nguyên Phó Chủ tịch Hội Khuyến học Việt Nam, nguyên Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương cho rằng trạng thái “bất định” kéo dài khiến giáo dục nghề nghiệp khó xây dựng được bản sắc và định vị rõ ràng trong hệ thống giáo dục quốc dân. Nhận định này cho thấy muốn phát triển theo chiều sâu, trước hết cần bảo đảm sự nhất quán và ổn định trong quản lý.

Một điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là khoảng cách giữa giáo dục nghề nghiệp với giáo dục phổ thông và giáo dục đại học. Từ năm 1986, UNESCO đã nhấn mạnh việc xoá bỏ các rào cản giữa các cấp học và loại hình giáo dục. Tuy nhiên, ở Việt Nam, phân luồng nhiều khi vẫn bị hiểu thành “phân tầng”, khiến trường nghề bị gắn với hình ảnh lựa chọn thứ yếu.
Thực tế, phân luồng đúng nghĩa phải là đa dạng hoá con đường phát triển, tạo cơ hội phù hợp với năng lực và sở trường mỗi cá nhân. Khi cơ chế liên thông rõ ràng, minh bạch và khả thi, người học nghề vẫn có thể tiếp tục học lên cao đẳng, đại học nếu đáp ứng yêu cầu. Luật Giáo dục nghề nghiệp 2025 bổ sung mô hình Trung học nghề và mở rộng đối tượng tham gia hoạt động giáo dục nghề nghiệp nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng mở, linh hoạt và liên thông, tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi công dân. Trung học nghề - mô hình phổ biến trên thế giới được xác định là cùng bậc học với trường trung học phổ thông, tích hợp kiến thức cốt lõi của chương trình trung học phổ thông và chuyên môn nghề. Mục tiêu là giúp người học vừa hoàn thiện trình độ học vấn phổ thông, vừa trang bị năng lực nghề nghiệp để thực hiện các công việc trong môi trường quen thuộc của ngành nghề, có khả năng ứng dụng kỹ thuật và công nghệ hiện đại, làm việc độc lập hoặc theo nhóm.
Việc bổ sung mô hình này nhằm tăng cường định hướng nghề nghiệp cho thanh thiếu niên từ bậc phổ thông, đồng thời khắc phục hạn chế trong công tác hướng nghiệp, phân luồng và liên thông.
GS Phạm Tất Dong cũng nhấn mạnh, giáo dục nghề nghiệp mang trên vai sứ mệnh đào tạo người lao động tốt cho quốc gia. Khi mọi người “có nghề trong tay”, xã hội sẽ bớt áp lực về thất nghiệp và bất bình đẳng cơ hội.
Tạp chí giáo dục
Giáo dục nghề nghiệp mang trên vai sứ mệnh đào tạo người lao động tốt cho quốc gia (Nguồn: Trường Cao đẳng Nghề Thành phố Hồ Chí Minh)
Gắn đào tạo với doanh nghiệp và công nghệ mới
Chiều sâu chính sách còn thể hiện ở mức độ gắn kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận lao động, mà cần trở thành đối tác xây dựng chương trình, tham gia đào tạo, đánh giá kỹ năng và đầu tư cơ sở vật chất.
Trong nền kinh tế số, vòng đời công nghệ ngắn hơn trước rất nhiều. Vì vậy, giáo dục nghề nghiệp phải linh hoạt, có cơ chế cập nhật chương trình nhanh chóng, tăng cường đào tạo kỹ năng mềm, tư duy sáng tạo và khả năng thích ứng. Trong kỷ nguyên chuyển đổi số, chiều sâu chính sách chính là nền móng để hệ thống này phát triển bền vững và góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận