Trên thế giới, khái niệm "học tập suốt đời" và "giáo dục nghề nghiệp suốt đời" đã được UNESCO, OECD, Liên minh châu Âu xác lập như một định hướng chiến lược nhằm phát triển vốn con người, thúc đẩy công bằng xã hội và tăng năng lực cạnh tranh quốc gia. Ở Việt Nam, chủ trương này đã từng bước được thể chế hóa trong hệ thống pháp luật, đặc biệt là Luật Giáo dục nghề nghiệp và Chiến lược phát triển Giao giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045. Tuy nhiên, để Giáo dục nghề nghiệp suốt đời thực sự đi vào cuộc sống, bên cạnh cơ hội từ chuyển đổi số, vẫn còn không ít thách thức đặt ra về chính sách, hạ tầng, nhận thức xã hội và chất lượng đào tạo, đòi hỏi những giải pháp đồng bộ và dài hạn.
Giáo dục Nghề nghiệp suốt đời: Cách tiếp cận quốc tế
Theo UNSCO (1945), Giáo dục nghề nghiệp (GDNN) suốt đời là việc người học tham gia vào các hoạt động GDNN ở nhiều giai đoạn khác nhau trong cuộc đời, không giới hạn độ tuổi, trình độ, điều kiện, hoàn cảnh cá nhân hay thời gian. Cũng như học tập suốt đời, GDNN suốt đời nhằm phát triển kiến thức, kỹ năng và năng lực trong suốt cuộc đời, góp phần nâng cao vốn con người của mỗi cá nhân và chất lượng nguồn nhân lực quốc gia. GDNN suốt đời bao gồm cả đào tạo ban đầu (cho người mới vào nghề) và đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao (cho người đang làm việc hoặc chuyển đổi nghề nghiệp).
Về quan điểm và cách tiếp cận về GDNN suốt đời, một số tổ chức quốc tế và các nước đã đưa ra cách tiếp cận của mình. Chẳng hạn: Đối với GDNN, UNESCO (1972, 1996) cho rằng “Giáo dục và đào tạo kỹ thuật, nghề nghiệp -TVET, là công cụ thiết yếu để giúp mọi người tham gia hoặc tái tham gia vào thế giới nghề nghiệp”. UNESCO nhấn mạnh GDNN phải gắn với học tập suốt đời, công bằng xã hội và phát triển bền vững (UNESCO, 1999).
Theo OECD (1996), GDNN có vai trong việc phát triển kỹ năng xuyên suốt cuộc đời lao động. OECD khuyến nghị các nước xây dựng hệ thống GDNN linh hoạt, có khả năng đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) cho người trưởng thành.
Liên minh châu Âu (EU-2001 và 2016) cho rằng, để GDNN suốt đời được hiện thực hóa, phái thể chế hóa và EU đã Xây dựng các khung chiến lược học tập suốt đời châu âu “European Lifelong Learning Strategy” nhằm hỗ trợ người dân học tập liên tục, đặc biệt trong bối cảnh chuyển đổi số và thị trường lao động linh hoạt. Theo EU, thông qua các khuyến nghị như Upskilling Pathways (2016), EU thúc đẩy GDNN như một phần của học tập suốt đời, đặc biệt cho người trưởng thành có trình độ thấp hoặc kỹ năng hạn chế. Các quốc gia thành viên được khuyến khích xây dựng lộ trình học tập cá nhân hóa, kết hợp đào tạo nghề và kỹ năng mềm.
Cơ hội GDNN suốt đời trong bối cảnh chuyển đổi số
Tại Việt Nam, GDNN suốt đời là một chủ trương của Đảng và Nhà nước và đã được thể chế hóa trong các Luật và các văn bản dưới Luật. Theo đó, việc học tập suốt đời được thực hiện thông qua các hoạt động đào tạo ngắn hạn, đào tạo phi chính quy, đào tạo tại các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề cho các nhóm đối tượng khác nhau, tùy theo điều kiện và thực hiện trong bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời của họ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, người lao động, người học nghề có cơ hội được tiếp cận GDNN suốt đời. Các cơ hội đó là:
Trong các cơ sở GDNN đã phát triển hệ sinh thái học nghề trực tuyến, học nghề với các thiết bị mô phỏng. Các chương trình đào tạo nghề được thiết kế mở, linh hoạt hơn với các nhóm đối tượng khác nhau. Điều này đã giúp người học, có thể học ở bất kỳ đâu, có thể lựa chọn được các khóa/các chương trình đào tạo nghề phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mình.
Bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam đã thúc đẩy GDNN suốt đời, tạo ra động lực mới cho cá nhân khi có mong muốn, có nhu cầu nâng cao kỹ nằng nghề nghiệp. Với việc ứng dụng rộng rãi các công nghệ mới như Internet, nền tảng học trực tuyến, AI, các phần mềm mô phỏng giúp việc học trở nên dễ tiếp cận hơn bao giờ hết.
Về mặt thể chế, chính sách phát triển GDNN, như đã nêu, Nhà nước và các tổ chức khuyến khích xây dựng xã hội học tập
Thể chế hóa Giáo dục Nghề nghiệp suốt đời: Nền tảng pháp lý quan trọng
Như nêu trên, GDNN suốt đời ở những mức độ nhất định đã được thể hiện trong các chủ trương của Đảng, trong đó có Nghi quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính Trị về đột phá phát triển GDĐT và được thể chế trong các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam, từ Luật, Nghị định, Quyết định có liên quan, nhất là Luật GDNN (2014) và Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045 và gần đây nhất là Luật GDNN sửa đổi (gọi tắt là Luật GDNN 2025).
Trong Luật GDNN (2014) và Luật GDNN (2025), GDNN được thực hiện với hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên. Đào tạo chính quy là hình thức đào tạo theo các khóa học tập trung toàn bộ thời gian do cơ sở GDNN và các cơ sở khác có đăng ký hoạt động GDNN (gọi chung là cơ sở hoạt động GDNN) thực hiện để đào tạo các trình độ sơ cấp, trung cấp và cao đẳng (Luật GDNN 2025 bổ sung trình độ giáo dục trung học nghề). Đào tạo thường xuyên là hình thức đào tạo vừa làm vừa học, học từ xa hoặc tự học có hướng dẫn đối với các chương trình đào tạo (CTĐT) trình độ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, chương trình trung học nghề và các CTĐT nghề nghiệp khác, được thực hiện linh hoạt về chương trình, thời gian, phương pháp, địa điểm đào tạo, phù hợp với yêu cầu của người học. Như vậy, đào tạo thường xuyên đáp ứng nhu cầu học suốt đời của người lao động, kể cả trước đó họ đã được tham gia các khóa đào tạo chính quy trong các cơ sở GDNN với các trình độ khác nhau và các CTĐT khác nhau. Hiện nay, các cơ sở GDNN được phân bố theo địa phương, vùng miền, theo các ngành nghề, lĩnh vực, trình độ đào tạo. Với ứng dụng công nghệ số, ngoài các CTĐT chính quy, các cơ sở GDNN đã xây dựng hệ sinh thái GDNN mở phục vụ cho các nhóm đối tượng tham gia đào tạo thường xuyên.
Ngoài Luật GDNN, GDNN suốt đời cũng được thể hiện khá rõ trong các nội dung của Chiến lược phát triển GDNN giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến 2045. Điều này được thể hiện trong mục tiêu và các chỉ tiêu cụ thể về đào tạo nghề nghiệp, như “Phát triển nhanh GDNN nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường lao động, của người dân” hoặc “Đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho lực lượng lao động (năm 2025 là 25% và năm 2030 là 50%)”. Để thực hiện mục tiêu này, Chiến lược đã đề ra nhiều nhiệm vụ, giải pháp. Liên quan đến học tập suốt đời, có thể thấy có một số giải pháp như sau:
Thứ nhất, về cơ chế, chính sách, chiến lược đã nêu, cần hoàn thiện cơ chế, chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động tự do, người lao động thất nghiệp hoặc có nguy cơ thất nghiệp do tác động của cách mạng công nghiệp, thiên tai, dịch bệnh... được tham gia học nghề.
Thứ hai, về chuyển đổi số trong GDNN, chiến lược nêu rõ, phát triển đồng bộ hạ tầng số bao gồm hạ tầng dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật; phát triển, nâng cấp và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu; xây dựng các nền tảng số có khả năng triển khai dùng chung và hỗ trợ dạy học trực tuyến; phát triển kho học liệu số dùng chung;…. Điều này cho phép mọi đối tượng có nhu cầu học nghề đều dễ tiếp cận với các khóa đào tạo, các CTĐT tạo phù hợp với đặc điểm thể chất, điều kiện sống của mình.
Thứ ba, về đổi mới chương trình và phương pháp đào tạo, để đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời, Chiến lược đã nêu rõ phát triển CTĐT các ngành, nghề mới, ngành, nghề CNTT, ứng dụng công nghệ mới, kỹ năng tương lai và các CTĐT cho người lao động trong các doanh nghiệp theo hình thức vừa làm vừa học ở trình độ trung cấp, cao đẳng. Đa dạng hóa phương thức tổ chức đào tạo với sự ứng dụng mạnh mẽ của CNTT. Phát triển mạnh học nghề tại nơi làm việc; chú trọng đào tạo lại, đào tạo thường xuyên cho người lao động, đào tạo cho lao động di cư. Đẩy mạnh triển khai liên kết nhà trường và doanh nghiệp.
Thứ tư, tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp được coi là giải pháp cốt lõi để nâng cao chất lượng đào tạo và đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người học, trong đó có người lao động.
Những thách thức đặt ra
Có thể nói, thể chế, chính sách và các điều kiện cho GDNN suốt đời đã có, nhưng từ chính sách, quy định đến thực tiễn vẫn còn những khoảng cách khá lớn. GDNN suốt đời vẫn còn những thách thức rất lớn. Những thách thức đó là:
Tính đồng bộ của chính sách vẫn là một trong những vấn đề về thể chế GDNN. Các quy định về GDNN và quy định về chính sách việc làm, chính sách thất nghiệp; giữa GDNN và GDĐH là những ví dụ điển hình. Tính rõ ràng giữa các quy định về phát triển kỹ năng nghề nghiệp (KNNN) và GDNN là một vấn đề tồn tại khá lâu, nhưng đến nay Luật việc làm mới được sửa đổi.
Nhận thức xã hội về GDNN chưa đầy đủ. Do định kiến nghề nghiệp, nhiều người, nhiều gia đình vẫn coi học tập chỉ gắn với bằng cấp, chưa chú trọng đến việc học để nâng cao kỹ năng, năng lực thích ứng và sáng tạo trong công việc.
Khoảng cách phát triển vùng miền ảnh hướng đến cơ hội tiếp cận của người học đối với GDNN. Người dân ở nông thôn, miền núi, vùng sâu vùng xa gặp khó khăn trong tiếp cận cơ hội học nghề do thực tế các cơ sở GDNN ở các vùng này cơ sở vật chất còn hạn chế, mạng internet và hạ tầng công nghệ còn yếu và không đồng bộ.
Hạ tầng công nghệ và kỹ năng số hạn chế. Trong kỷ nguyên số, việc thiếu kỹ năng CNTT và ngoại ngữ khiến nhiều người khó tham gia vào các chương trình học tập trực tuyến hoặc hội nhập quốc tế.
Áp lực từ CMCN 4.0. Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các doanh nghiệp liên tục đổi mới công nghệ. Điều này đỏi hỏi người lao động phải liên tục cập nhật kỹ năng. Tuy nhiên, hệ thống GDNN chưa theo kịp tốc độ đổi mới. Các CTĐT còn thiếu sự linh hoạt, phương pháp đào tạo lạc hậu, chậm đổi mới, chưa theo kịp sự thay đổi của công nghệ, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng đa dạng của người học và xã hội.
Còn thiếu cơ chế khuyến khích và hỗ trợ. Học tập suốt đời tuy linh hoạt, nhưng đòi hỏi người học, người lao động phải có sự hỗ trợ từ nhà nước, từ doanh nghiệp, trong khi đó, chính sách hỗ trợ học tập suốt đời còn hạn chế, chưa có nhiều chương trình khuyến khích doanh nghiệp và cộng đồng tham gia đào tạo lại, nâng cao kỹ năng cho người lao động.
Thói quen học tập chưa bền vững. Văn hóa tự học và học tập ngoài nhà trường chưa thực sự phổ biến, nhiều người thiếu động lực và kỹ năng tự học.
Một số khuyến nghị
Có thể thấy, học tập suốt đời nói chung và GDNN suốt đời nói riêng không chỉ là nhu cầu cá nhân mà còn là yêu cầu tất yếu của xã hội Việt Nam trong kỷ nguyên số. Từ những thực tế và những thách thức nêu trên, xin khuyến nghị một số vấn đề sau:
Thứ nhất, cần đầu tư phát triển hạ tầng và công nghệ số đồng bộ. Trong kỷ nguyên số, tốc độ là yếu tố để cạnh tranh. Do vậy, cần đẩy mạnh đầu tư hạ tầng công nghệ, mở rộng mạng internet tốc độ cao đến vùng nông thôn, miền núi. Xây dựng các nền tảng học trực tuyến miễn phí hoặc chi phí thấp, dễ tiếp cận với các CTĐT đa dạng, thuận tiện cho mọi đối tượng có nhu cầu học nghề. Tích hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ số vào các CTĐT để cá nhân hóa việc học nghề.
Thứ hai, cần hoàn thiện các cơ chế, chính sách, nhất là đồng bộ hóa chính sách việc làm và chính sách GDNN; giữa GDNN và các bậc học khác của hệ thống GDQD; đồng thời hoàn thiện các chính sách hỗ trợ GDNN suốt đời từ Nhà nước như:
Tăng đầu tư để nâng cao năng lực và chất lượng đào tạo cho các Trung tâm GDNN, trung tâm GDTX ở xã/phường, đồng bộ với hoàn thiện chính quyền hai cấp.
Có chính sách miễn giảm học phí cho các khóa đào tạo lại (reskilling) và nâng cao kỹ năng (upskilling) cho người lao động trong các doanh nghiệp, nhằm đạt mục tiêu đào tạo lại cho 50% lực lượng lao động vào năm 2030, thông qua Quỹ hỗ trợ đào tạo của doanh nghiệp, theo quy định của Luật GDNN 2025.
Khuyến khích doanh nghiệp tham gia đào tạo nhân viên, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi (về thời gian, về kinh phí…) cho người lao động tham gia các khóa đào tạo nâng cao KNNN, coi đó là một phần trách nhiệm xã hội.
Thứ ba, xây dựng văn hóa học tập trong xã hội. Đưa khái niệm “học tập suốt đời” vào các chương trình GDNN để hình thành thói quen thường xuyên trau dồi Kỹ năng nghề nghiệp ngay từ khi còn học trong các cơ sở Giáo dục Nghề nghiệp. Tổ chức các chiến dịch truyền thông với các hình thức và phương thức khác nhau thông qua nền tảng số, lan tỏa tinh thần “học nghề để thay đổi cuộc sống”. Khuyến khích mô hình GDNN ở cộng đồng: xây dựng các câu lạc bộ học nghề, lớp học kỹ năng mềm, nhóm học ngoại ngữ để lan tỏa tinh thần học để phát triển.
Thứ tư, đối với lao động trẻ, để thúc đẩy tinh thần GDNN suốt đời, họ cần được trang bị các kiến thức và kỹ năng như: Kỹ năng số, đào tạo về công nghệ thông tin, an ninh mạng, phân tích dữ liệu. Bên cạnh đó, cần trang bị ngoại ngữ, phổ cập tiếng Anh và các ngôn ngữ khác tương đồng với xu hướng đầu tư của các doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam như tiếng Hàn, tiếng Nhật, tiếng Trung… để mở rộng cơ hội việc làm trong các doanh nghiệp FDI. Ngoài ra, với khởi nghiệp, sáng tạo cần hỗ trợ thanh niên, lao động trẻ tham gia các chương trình đổi mới sáng tạo, vườn ươm khởi nghiệp. Có thể lựa chọn hình thức học nghề linh hoạt: kết hợp học trực tuyến và trực tiếp, cho phép vừa học vừa làm.
Thứ năm, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong Giáo dục Nghề nghiệp suốt đời. Tận dụng các chương trình của UNESCO, World Bank, ILO và các tổ chức quốc tế về học tập suốt đời và Giáo dục Nghề nghiệp suốt đời. Đúc rút kinh nghiệm mô hình thành công từ các nước như Đức, Hàn Quốc, Singapore – nơi GDNN suốt đời gắn liền với phát triển kinh tế tri thức.
Tài liệu tham khảo
1. Báo cáo Giám sát Toàn cầu về Giáo dục (2019) – nhấn mạnh vai trò học tập suốt đời trong bối cảnh di cư và phát triển bền vững.
2. Communication: Making a European Area of Lifelong Learning a Reality (2001) – văn kiện nền tảng cho chính sách học tập suốt đời của EU.
3. Council Recommendation on Upskilling Pathways (2016) – khuyến nghị về nâng cao kỹ năng cho người trưởng thành.
4. Education Policy Analysis (2001) – phân tích chính sách giáo dục và học tập suốt đời.
5. ET2020 Framework (2009–2020) và European Education Area 2025 – tiếp tục thúc đẩy học tập suốt đời trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập.
6. GS.TS Tô Lâm (2025): Học tập suốt đời, Tạp chí Cộng sản, nguồn: https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/hoc-tap-suot-doi
7. Learning to Be: The World of Education Today and Tomorrow (1972) – Báo cáo Faure.
8. Learning: The Treasure Within (1996) – Báo cáo Delors.
9. Lifelong Learning for All (1996) – báo cáo chính sách đầu tiên về học tập suốt đời.
10. Luật Giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH13, ngày 27/11/2014.
11. Luật Giáo dục nghề nghiệp sửa đổi số 124/2025/QH15, ngày 10/12/2025.
12. Quyết định số 2239/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển Giáo dục Nghề nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.