Thứ Năm , 28/05/2026 , 16:16:05 GMT+7

Thay đổi tư duy quản lý tuyển sinh đại học từ mở rộng quy mô sang nâng chuẩn học thuật

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Hai, 18/05/2026, 14:33:22 GMT+7

Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT vừa được Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) ban hành không chỉ điều chỉnh cách xác định chỉ tiêu tuyển sinh đại học, mà còn cho thấy sự thay đổi đáng chú ý trong tư duy quản lý tuyển sinh giáo dục đại học. Khi trình độ tiến sĩ dần được xem là chuẩn cốt lõi của đội ngũ giảng viên, chính sách mới được kỳ vọng sẽ thúc đẩy nâng cao chất lượng học thuật, nghiên cứu khoa học và tiệm cận thông lệ quốc tế. Tuy nhiên, quá trình triển khai cũng đặt ra không ít áp lực và thách thức đối với nhiều cơ sở đào tạo.

Chuyển trọng tâm từ số lượng sang chất lượng đội ngũ
Tạp chí giáo dục
Chính sách mới hướng tới nâng chất lượng học thuật giáo dục đại học. Ảnh: Báo Người Lao động.
Điểm mới quan trọng là Thông tư quy định trình độ tiến sĩ, phó giáo sư và giáo sư làm mốc chuẩn với hệ số 1; giảng viên trình độ thạc sĩ chỉ còn hệ số 0,75. Trong khi đó, quy định trước đây lấy thạc sĩ làm chuẩn; còn tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư được nhân hệ số rất cao, lần lượt là 2, 3 và 5.
Sự thay đổi này cho thấy cách tiếp cận quản lý tuyển sinh đại học đang dịch chuyển đáng kể. Nếu trước đây, nhiều cơ sở đào tạo có xu hướng mở rộng quy mô tuyển sinh dựa trên số lượng đội ngũ và lợi thế học hàm, học vị, thì nay trọng tâm được chuyển sang nâng chuẩn chất lượng học thuật của giảng viên.

Thông điệp chính sách khá rõ ràng: trình độ tiến sĩ đang dần trở thành chuẩn quan trọng đối với giảng viên đại học, phù hợp hơn với xu hướng quốc tế và mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục đại học Việt Nam.
Cơ chế mới được đánh giá sẽ tạo động lực để các trường đầu tư mạnh hơn cho phát triển đội ngũ giảng viên trình độ cao, đặc biệt là tiến sĩ. Khi chỉ tiêu tuyển sinh gắn trực tiếp với năng lực học thuật của đội ngũ cơ hữu, các trường buộc phải chú trọng hơn tới nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế và phát triển học thuật dài hạn.

Một thay đổi đáng chú ý khác là việc thu hẹp chênh lệch hệ số giữa các học hàm, học vị. Trước đây, một giáo sư có thể được quy đổi tương đương 5 giảng viên trình độ thạc sĩ, khiến một số cơ sở đào tạo phụ thuộc đáng kể vào đội ngũ học hàm cao để mở rộng chỉ tiêu tuyển sinh. Nay khi giáo sư, phó giáo sư và tiến sĩ cùng được tính hệ số 1, quy mô tuyển sinh sẽ phản ánh sát hơn năng lực đào tạo thực tế theo đầu người.

Thông tư cũng thống nhất mức quy đổi 40 sinh viên cho mỗi hệ số, thay cho cơ chế cũ có nhiều mức quy đổi khác nhau theo nhóm ngành. Điều này giúp công thức tính trở nên đơn giản, minh bạch và dễ dự báo hơn đối với các cơ sở đào tạo.
Áp lực mới đối với các trường quy mô nhỏ và định hướng ứng dụng
Tạp chí giáo dục
Nâng chuẩn giảng viên đặt ra bài toán mới cho các cơ sở đào tạo địa phương. Nguồn: VOV.
Dù được đánh giá là bước điều chỉnh cần thiết để nâng chuẩn giáo dục đại học, chính sách mới cũng đặt ra nhiều áp lực cho các trường đại học địa phương, trường ngoài công lập quy mô nhỏ hoặc cơ sở đào tạo theo định hướng ứng dụng.

Trong thực tế, không phải trường nào cũng dễ dàng thu hút và giữ chân đội ngũ tiến sĩ, đặc biệt ở những ngành khó tuyển nhân lực chất lượng cao. Khi tiến sĩ trở thành “chuẩn cốt lõi” để xác định chỉ tiêu tuyển sinh, nhiều trường sẽ buộc phải tái cấu trúc chiến lược nhân sự và điều chỉnh quy mô đào tạo.

Bên cạnh đó, một số ý kiến cho rằng cần tính tới nguy cơ “chạy đua tiến sĩ” nếu cơ chế hậu kiểm không đủ chặt chẽ. Khi chỉ tiêu tuyển sinh phụ thuộc trực tiếp vào số lượng giảng viên trình độ tiến sĩ, có thể phát sinh tình trạng sử dụng nhân sự mang tính hình thức hoặc cạnh tranh tuyển dụng thiếu bền vững giữa các cơ sở đào tạo.

Một vấn đề khác là cách tiếp cận mới chưa phản ánh đầy đủ đặc thù của một số lĩnh vực đào tạo thiên về thực hành như nghệ thuật, thể thao, công nghệ ứng dụng hay y khoa. Trong các lĩnh vực này, kinh nghiệm thực tiễn và năng lực nghề nghiệp đôi khi có giá trị rất lớn dù người giảng dạy không sở hữu học vị tiến sĩ.
Nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay cũng xem trình độ tiến sĩ là chuẩn phổ biến đối với giảng viên đại học, đặc biệt ở các trường định hướng nghiên cứu.

Tại Hoa Kỳ, nhiều trường đại học yêu cầu giảng viên cơ hữu phải có bằng tiến sĩ hoặc học vị tương đương đối với các vị trí giảng dạy và nghiên cứu chính thức. Thông tin về yêu cầu tuyển dụng giảng viên được nhiều trường công bố công khai, như tại Đại học Harvard (Hoa Kỳ) hay Đại học Stanford (Hoa Kỳ).

Tuy nhiên, ở nhiều quốc gia, chính sách phát triển đội ngũ giảng viên vẫn được triển khai linh hoạt theo nhóm ngành. Các lĩnh vực nghệ thuật, công nghệ ứng dụng hoặc đào tạo nghề vẫn có cơ chế sử dụng chuyên gia thực hành song song với yêu cầu học thuật nhằm bảo đảm tính thực tiễn của chương trình đào tạo.

Có thể thấy, để chính sách mới phát huy hiệu quả, cần có lộ trình phù hợp theo từng nhóm ngành và loại hình cơ sở đào tạo. Đồng thời, việc hậu kiểm đội ngũ giảng viên cơ hữu cần được thực hiện nghiêm túc nhằm bảo đảm mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng thực chất, thay vì chỉ chuẩn hóa về mặt bằng cấp.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận