Các chính sách quan trọng trong tái cấu trúc hệ thống đại học
Năm 2025 được xem là dấu mốc quan trọng trong tiến trình tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học Việt Nam, khi nhiều văn bản quy hoạch và định hướng chiến lược có hiệu lực. Theo Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050, hệ thống giáo dục đại học sẽ được tổ chức lại theo hướng tinh gọn, giảm dần các cơ sở nhỏ, yếu, phân tán nguồn lực; đồng thời hình thành các trung tâm đại học lớn, đa ngành, đa lĩnh vực, có năng lực đào tạo và nghiên cứu ở trình độ cao, đủ sức cạnh tranh trong khu vực và quốc tế. Dự kiến, trong tương lai, chỉ còn khoảng 50-60 cơ sở giáo dục đại học có khả năng đào tạo đến trình độ tiến sĩ, đóng vai trò nòng cốt của hệ thống. Trong bối cảnh đó, việc sắp xếp lại mạng lưới trường đại học đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư công, khắc phục tình trạng manh mún, chồng chéo chức năng.
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB ngày 25/12/2025 về định hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập. Theo văn bản, việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đảm bảo phù hợp với Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 452/QĐ-TTg ngày 27/02/2025, Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 73/QĐ-TTg ngày 10/02/2023 và các quy hoạch quốc gia, quy hoạch ngành, lĩnh vực, quy hoạch vùng, địa phương có liên quan đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.
Đáng chú ý, văn bản nêu rõ, việc sắp xếp không căn cứ mức độ tự chủ tài chính để tiến hành sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục. Cụ thể, về mức độ đáp ứng điều kiện và chuẩn, các cơ sở không bảo đảm điều kiện thành lập theo quy định hoặc ngành đào tạo không đủ điều kiện mở, duy trì ngành sẽ được xem xét sắp xếp. Đối với giáo dục đại học, các cơ sở không đạt chuẩn theo Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT ngày 5/2/2024 cũng thuộc diện nghiên cứu sắp xếp, tổ chức lại. Khi chuẩn cơ sở giáo dục nghề nghiệp được ban hành, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp sẽ được đánh giá tương tự. Về ngành, lĩnh vực đào tạo, các cơ sở đào tạo đa lĩnh vực nhưng quy mô đào tạo, thành tích nghiên cứu ở từng lĩnh vực rất nhỏ (trừ các khối quốc phòng - an ninh, sức khỏe, nghệ thuật) sẽ được xem xét sắp xếp; tiến tới giảm số lượng cơ sở đào tạo đơn ngành.
Đối với tiêu chí phục vụ chức năng quản lý nhà nước, các lĩnh vực đào tạo không phục vụ đào tạo nguồn nhân lực cho chức năng quản lý nhà nước, hoạt động nghề nghiệp đặc thù, chuyên môn sâu của bộ, ngành, địa phương quản lý trực tiếp sẽ thuộc diện xem xét. Tương tự, những lĩnh vực đào tạo không mang tính thiết yếu, không thể tuyển sinh hoặc xã hội không có nhu cầu cũng được đưa vào diện sắp xếp. Các hình thức sắp xếp, tổ chức lại bao gồm tái cấu trúc (chuyển đổi loại hình, cơ cấu ngành, đổi tên, điều chỉnh định hướng phát triển); chuyển giao cơ sở giáo dục về bộ, ngành hoặc địa phương phù hợp; hợp nhất với cơ sở khác để tập trung nguồn lực; giải thể và chuyển nguồn lực sang cơ sở phù hợp; hoặc các phương án khác theo quy định pháp luật. Đối với các cơ sở giáo dục đại học chưa đạt chuẩn nhưng tiếp tục duy trì, bộ, ngành, địa phương quản lý trực tiếp phải xây dựng phương án đầu tư, đào tạo, bồi dưỡng và cam kết đến năm 2030 đạt chuẩn theo quy định. Sau mốc thời gian này, các cơ sở không đáp ứng yêu cầu sẽ bị kiên quyết sắp xếp, tổ chức lại. Quy định tương tự áp dụng với cơ sở giáo dục nghề nghiệp khi chuẩn được ban hành. Các cơ sở giáo dục không thuộc diện phải sắp xếp thì thực hiện tự rà soát, tinh gọn bộ máy, xóa bỏ cấp trung gian, bảo đảm quản trị thống nhất, hiệu quả. Đối với trường trung học nghề (áp dụng từ ngày 01/7/2026 theo Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2025), các địa phương chuẩn bị phương án hình thành trường trên cơ sở sắp xếp lại trường trung cấp, trung tâm giáo dục nghề nghiệp, giáo dục thường xuyên. Không tổ chức trường trung học nghề ở địa bàn đã có trường cao đẳng hoặc trung cấp đào tạo chương trình trung học nghề.
Cách tiếp cận này cho thấy rõ quan điểm: sắp xếp để nâng chất lượng, không giảm số lượng một cách cơ học. Các phương án tổ chức lại đa dạng bao gồm: hợp nhất, chuyển giao, tái cấu trúc định hướng phát triển, giải thể trong những trường hợp không đáp ứng yêu cầu tối thiểu. Mọi phương án đều gắn với lộ trình cụ thể, bảo đảm không làm gián đoạn hoạt động đào tạo và không ảnh hưởng đến quyền lợi của sinh viên.
Thực tiễn nhiều năm cho thấy, mô hình trường đại học quy mô nhỏ, đơn ngành, thiếu đội ngũ mạnh và cơ sở vật chất đồng bộ ngày càng bộc lộ hạn chế. Trong khi đó, yêu cầu đào tạo nhân lực chất lượng cao, liên ngành, gắn với khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo cần các cơ sở giáo dục đại học có tiềm lực đủ lớn. Vì vậy, sáp nhập và tái cấu trúc nếu được thực hiện bài bản sẽ mở ra cơ hội để tập trung nguồn lực, nâng cao năng lực nghiên cứu, tăng cường hợp tác quốc tế và cải thiện vị thế học thuật của các trường.
Giữ bản sắc học thuật trong mô hình đại học đa ngành
Một trong những băn khoăn lớn khi thực hiện sắp xếp, sáp nhập các trường đại học là nguy cơ “hoà tan” bản sắc, làm phai nhạt truyền thống học thuật được xây dựng qua nhiều thế hệ. Bàn về vấn đề này, các chuyên gia giáo dục cho rằng, bản sắc của một trường đại học không nằm ở tên gọi hành chính, mà ở cốt lõi chất lượng đào tạo, đội ngũ giảng viên và giá trị học thuật mà nhà trường theo đuổi. Vì vậy, mô hình đại học đa ngành, đa lĩnh vực nếu được thiết kế với cơ chế quản trị phù hợp hoàn toàn có thể bảo tồn và phát huy thế mạnh riêng của từng đơn vị thành viên. Nhiều hệ thống đại học lớn trên thế giới được hình thành từ việc hợp nhất các trường, nhưng vẫn duy trì rõ bản sắc của từng khoa, từng ngành.
Các chuyên gia cũng nhấn mạnh, để việc vận hành các đại học đa ngành hiệu quả, cần chú ý tới vấn đề tổ chức và phân quyền. Khi các trường thành viên được trao quyền tự chủ học thuật thực chất, có không gian phát triển nghiên cứu và đào tạo theo thế mạnh riêng, việc sáp nhập không làm suy yếu bản sắc mà sẽ tạo điều kiện để bản sắc đó được nâng tầm nhờ nguồn lực chung mạnh hơn. Ngược lại, nếu sáp nhập chỉ dừng lại ở việc thay đổi đầu mối quản lý, thiếu chiến lược phát triển học thuật dài hạn, nguy cơ xáo trộn và phản ứng tiêu cực là điều khó tránh khỏi.
Từ góc độ chính sách, sắp xếp mạng lưới giáo dục đại học là chủ trương đúng và cần thiết trong bối cảnh hệ thống đang bước vào giai đoạn phát triển. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách phụ thuộc phần lớn vào cách thức tổ chức thực hiện. Đây là quá trình phức tạp, có tác động đến người học, đội ngũ giảng viên cũng như khối cơ sở vật chất, tài sản công đã được đầu tư trong nhiều năm. Vì vậy, quá trình này đòi hỏi sự thận trọng và tính toán kỹ lưỡng. Yêu cầu hàng đầu là phải xây dựng được lộ trình triển khai rõ ràng, minh bạch, gắn với công tác kiểm định chất lượng thực chất. Theo các chuyên gia, kiểm định cần được coi là căn cứ khoa học để đánh giá năng lực thực tế của từng cơ sở giáo dục đại học, từ đó xác định mô hình phát triển phù hợp. Khi quá trình sắp xếp dựa trên những dữ liệu khách quan và tiêu chí rõ ràng sẽ hạn chế những băn khoăn của xã hội. đồng thời góp phần giữ gìn và phát huy những giá trị học thuật cốt lõi của giáo dục Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.
Bạn đọc có thể xem chi tiết văn bản số 8562/BGDĐT-TCCB về định hướng sắp xếp, tổ chức lại cơ sở giáo dục đại học công lập và cơ sở giáo dục nghề nghiệp công lập TẠI ĐÂY