Thứ Hai , 13/04/2026 , 20:33:31 GMT+7

Xây dựng năng lực nghiên cứu cho các cơ sở giáo dục đại học

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Bảy, 11/04/2026, 15:03:19 GMT+7

Hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học đang đặt nền móng cho việc chuyển đổi các trường đại học thành trung tâm nghiên cứu và sáng tạo. Tuy nhiên, để chính sách này thực sự phát huy hiệu quả, cần một cách tiếp cận đồng bộ từ tổ chức, nghiên cứu, đầu tư hạ tầng đến cơ chế vận hành và phát triển đội ngũ.

Trong xu thế phát triển của nền kinh tế tri thức, đại học không còn chỉ là nơi truyền thụ kiến thức mà phải trở thành trung tâm sản xuất tri thức và đổi mới sáng tạo. Đây là yêu cầu tất yếu khi khoa học, công nghệ ngày càng đóng vai trò quyết định đối với năng lự cạnh tranh quốc gia.

Chính phủ ban hành Nghị định số 125/2026/NĐ-CP quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học. Nghị định này quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học, bao gồm: tổ chức, quản lý và chính sách thúc đẩy hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh; tài chính, quỹ và đầu tư; quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Lấy nhóm nghiên cứu làm hạt nhân phát triển

Một trong những điểm cốt lõi của Nghị định 125/2026/NĐ-CP là việc định hình lại cấu trúc hoạt động khoa học trong các trường đại học theo hướng tập trung và chuyên nghiệp hơn. Thay vì mô hình nghiên cứu phân tán, dựa trên các đề tài cá nhân như trước đây, Nghị định đã quy định việc tổ chức nghiên cứu theo các nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh. Cơ sở giáo dục đại học căn cứ nhu cầu, tiềm lực và chiến lược phát triển của cơ sở giáo dục đại học để xây dựng nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh.

Tạp chí giáo dục
Các thành viên “Nhóm nghiên cứu liên ngành về Y sinh và Sức khoẻ” làm việc trong phòng thí nghiệm (Nguồn: website Trường Quốc tế, Đại học Quốc gia Hà Nội)

Nhóm nghiên cứu tiềm năng có ít nhất 3 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 2 thành viên chủ chốt.

Nhóm nghiên cứu mạnh có ít nhất 5 thành viên, trong đó trưởng nhóm là giảng viên cơ hữu của cơ sở giáo dục đại học và ít nhất 4 thành viên chủ chốt. Trưởng nhóm nghiên cứu mạnh là nhà khoa học xuất sắc, có trình độ cao, có uy tín và ảnh hưởng học thuật đạt trình độ khu vực và quốc tế trong lĩnh vực chuyên môn; có năng lực dẫn dắt, quy tụ và phát triển đội ngũ nghiên cứu trình độ cao, xây dựng và tổ chức thực hiện định hướng nghiên cứu dài hạn nhằm tạo ra các sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có giá trị khoa học và/hoặc thực tiễn, có tác động lan tỏa đối với phát triển kinh tế - xã hội, đóng góp thiết thực cho phát triển đất nước.

Nhóm nghiên cứu tiềm năng và nhóm nghiên cứu mạnh được xây dựng theo các nguyên tắc bảo đảm tạo ra sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có giá trị học thuật hoặc khả năng thương mại hóa; tạo cơ hội cho giảng viên, nghiên cứu viên, người học, nhà khoa học, chuyên gia tham gia nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và bảo đảm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; tạo điều kiện để thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở giáo dục đại học, tổ chức khoa học và công nghệ, doanh nghiệp trong và ngoài nước.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định điều kiện, tiêu chí, quy trình công nhận, công nhận lại và không công nhận lại đối với nhóm, trưởng nhóm và thành viên chủ chốt của nhóm nghiên cứu mạnh và nhóm nghiên cứu tiềm năng, trong đó xác định rõ các tiêu chí định lượng tối thiểu về công bố khoa học, quyền sở hữu trí tuệ và các sản phẩm khoa học khác có tính đến đặc thù của từng lĩnh vực hoặc nhóm ngành khoa học; quy định Khung quy đổi sản phẩm khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Bên cạnh việc tổ chức lại hoạt động nghiên cứu, Nghị định 125/2026/NĐ-CP cũng đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng khoa học, đặc biệt là các phòng thí nghiệm. Đây là điều kiện nền tảng để các nhóm nghiên cứu có thể triển khai các đề tài có chất lượng và tiệm cận với chuẩn mực quốc tế.

Trong thực tế, hạn chế về hạ tầng nghiên cứu đã và đang là một trong những rào cản lớn đối với hoạt động khoa học trong các trường đại học. Dù đã có nhiều chương trình đầu tư trong thời gian qua, nhưng việc phân bổ nguồn lực vẫn còn dàn trải, thiếu trọng tâm, dẫn đến hiệu quả sử dụng chưa cao. Nghị định số 125 đã định hướng rõ hơn việc ưu tiên đầu tư cho các lĩnh vực và đơn vị có tiềm năng, qua đó tạo ra sự tập trung cần thiết.

Đổi mới cơ chế tài chính

Một điểm đổi mới quan trọng của Nghị định 125/2026/NĐ-CP là việc mở rộng quyền tự chủ tài chính cho các cơ sở giáo dục đại học trong hoạt động khoa học và công nghệ, đồng thời tạo điều kiện để huy động nguồn lực xã hội. Cùng với đó, tư duy quản lý khoa học cũng đang chuyển từ kiểm soát chặt chẽ đầu vào sang đánh giá kết quả đầu ra. Đây là một thay đổi cần thiết, bởi hoạt động nghiên cứu vốn mang tính sáng tạo và tiềm ẩn rủi ro.

Nghị định 125/2026/NĐ-CP cũng nhấn mạnh yêu cầu gắn kết hoạt động khoa học trong các trường đại học với nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường. Đây là một trong những yếu tố quan trọng để nâng cao giá trị của nghiên cứu, tránh tình trạng các kết quả khoa học chỉ dừng lại ở công bố mà chưa được ứng dụng. Trong bối cảnh hiện nay, khi doanh nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, việc tăng cường hợp tác giữa nhà trường và doanh nghiệp là xu hướng tất yếu. Khi các đề tài nghiên cứu xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, khả năng chuyển giao công nghệ và thương mại hóa sẽ cao hơn, đồng thời góp phần nâng cao chất lượng đào tạo thông qua việc gắn kết với thực tế sản xuất.

Một trong những nội dung quan trọng của Nghị định 125/2026/NĐ-CP là tạo điều kiện để giảng viên và nhà khoa học tham gia nghiên cứu, thông qua việc điều chỉnh định mức giảng dạy và khuyến khích tham gia các nhóm nghiên cứu. Đây là một bước đi cần thiết nhằm giải quyết mâu thuẫn lâu nay giữa nhiệm vụ giảng dạy và nghiên cứu trong các trường đại học.

Trước đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã xác lập quan điểm lấy khoa học công nghệ làm động lực tăng trưởng. Chương trình nâng cao năng lực cho các tổ chức nghiên cứu và phát triển công lập giai đoạn 2025-2030 đặt mục tiêu xây dựng các tổ chức nghiên cứu mạnh, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Những định hướng này đã mở ra một khuôn khổ mới cho hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục đại học. Tuy nhiên, để biến khuôn khổ này thành năng lực thực chất, cần sự vào cuộc đồng bộ từ thể chế, tổ chức, nguồn lực đến con người.

Trong hành trình đó, việc hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh, phát triển hạ tầng hiện đại, đổi mới cơ chế tài chính và tăng cường liên kết với doanh nghiệp sẽ là những yếu tố quyết định, góp phần đưa các trường đại học Việt Nam tiến gần hơn tới mô hình đại học nghiên cứu, đóng góp hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên tri thức.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận