Yêu cầu tạo cực tăng trưởng mới
Trong bối cảnh đất nước đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao vào vị trí động lực phát triển, hệ thống đại học cần được tổ chức lại theo hướng vừa bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học rộng rãi, vừa hình thành những cơ sở đủ năng lực dẫn dắt. Theo định hướng chiến lược phát triển giáo dục đại học, Việt Nam sẽ vừa mở rộng giáo dục đại học đại chúng, vừa hình thành mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học trọng điểm, trong đó một số đại học tiêu biểu đóng vai trò hạt nhân. Chiến lược định hướng hình thành 3-5 đại học thực hiện chiến lược quốc gia và 25-30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm thực hiện chiến lược vùng, ngành.
Bàn về vấn đề này, PGS.TS Phan Thanh Bình - Nguyên Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, đại học công lập cần được nhìn nhận như một “hạ tầng tri thức chiến lược của quốc gia”. Theo ông, đại học không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn sản sinh tri thức mới, phát triển công nghệ, hình thành đội ngũ chuyên gia, tư vấn chính sách và nuôi dưỡng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Vì vậy, đầu tư cho đại học công lập thực chất là đầu tư cho hạ tầng tri thức và năng lực phát triển của quốc gia. Khi nguồn lực quốc gia còn hữu hạn, không thể kỳ vọng tất cả cơ sở giáo dục đại học cùng lúc đạt trình độ nghiên cứu và cạnh tranh quốc tế. Vấn đề không phải là tạo ra sự đồng đều về nguồn lực, mà là tổ chức nguồn lực theo sứ mạng, để mỗi nhóm cơ sở phát huy đúng vai trò.
Đầu tư trọng điểm không đồng nghĩa với việc bỏ lại phía sau các trường khác. Ngược lại, mục tiêu cuối cùng phải là tạo ra những trung tâm đủ mạnh để kéo chất lượng của toàn hệ thống đi lên.
Đầu tư trọng điểm phải đi cùng tự chủ và trách nhiệm
Theo PGS.TS Phan Thanh Bình, kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của một hệ thống giáo dục đại học không được quyết định bởi sự phát triển đồng đều của tất cả các cơ sở, mà trước hết bởi sự hiện diện của một số đại học dẫn dắt. Những đại học này có khả năng tạo lập chuẩn mực học thuật, dẫn đầu nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế, qua đó tạo động lực và lan tỏa chất lượng cho toàn hệ thống.
Đề án phát triển Đại học Quốc gia Hà Nội được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đang cho thấy khá rõ mô hình một đại học được giao sứ mệnh dẫn dắt. Theo đề án, đến năm 2030, Đại học Quốc gia Hà Nội hướng tới trở thành đại học định hướng nghiên cứu và đổi mới sáng tạo, phấn đấu nằm trong nhóm 500 đại học hàng đầu thế giới, đồng thời có ít nhất một lĩnh vực lọt nhóm 100 thế giới theo các bảng xếp hạng quốc tế uy tín. Đáng chú ý, Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu ít nhất 80% giảng viên có trình độ tiến sĩ, 30% là giáo sư, phó giáo sư và thu hút lũy kế 500 chuyên gia, học giả quốc tế đến làm việc. Quy mô đào tạo sau đại học được đặt mục tiêu chiếm ít nhất 30%, trong đó 40% là nghiên cứu sinh.
Đặc biệt, các lĩnh vực được ưu tiên gồm bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới và khoa học xã hội - nhân văn liên ngành. Với các ngành khoa học, kỹ thuật, công nghệ và lĩnh vực ưu tiên chiến lược, ít nhất 60% chương trình đào tạo được định hướng giảng dạy bằng tiếng Anh; trường cũng đặt mục tiêu có 5% sinh viên quốc tế. Ở khía cạnh khoa học và đổi mới sáng tạo, Đại học Quốc gia Hà Nội đặt mục tiêu tăng 15% mỗi năm số công bố quốc tế thuộc nhóm Q1, Q2; có 100 đơn đăng ký sở hữu trí tuệ được chấp nhận mỗi năm và thành lập mới 50 doanh nghiệp spin-off/start-up mỗi năm. Đề án cũng dự kiến đầu tư, vận hành 5 trung tâm xuất sắc đạt chuẩn quốc tế, nâng tỷ trọng nguồn thu từ khoa học công nghệ và chuyển giao lên ít nhất 35%.
Tuy nhiên, đầu tư trọng điểm phải đi cùng một cơ chế phát triển khác biệt. Nếu vẫn sử dụng một cơ chế quản lý, một cách phân bổ nguồn lực và một hệ thống thủ tục giống nhau cho tất cả các trường thì rất khó tạo ra những đại học có năng lực cạnh tranh quốc tế. Các Đại học Quốc gia và đại học trọng điểm cần có không gian tự chủ rộng hơn để chủ động xây dựng chiến lược dài hạn, quyết định mô hình tổ chức và quản trị, thu hút và đãi ngộ nhân tài, huy động và phân bổ nguồn lực, phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây không phải là đặc quyền, mà là điều kiện để các cơ sở này thực hiện trách nhiệm chiến lược đối với đất nước.
Điểm này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh Luật Giáo dục đại học mới đặt tự chủ đại học trong chiến lược phát triển quốc gia. Khi Nhà nước tăng đầu tư và trao thêm quyền, các trường đồng thời phải chịu trách nhiệm cao hơn về kết quả. Một đại học được ưu tiên về nguồn lực phải chứng minh được giá trị gia tăng tương ứng: chất lượng đào tạo tốt hơn, nghiên cứu có tác động lớn hơn, nhiều nhân tài được thu hút hơn, công nghệ được chuyển giao nhiều hơn và đóng góp rõ rệt hơn cho nền kinh tế - xã hội.
Đầu tư đúng hướng, kiến tạo lợi ích cho hệ thống giáo dục đại học
Trong quá trình tái cấu trúc mạng lưới giáo dục đại học, một trong những nguy cơ cần tránh là quan niệm rằng sau sắp xếp, tất cả cơ sở đều phải hướng đến cùng một mô hình đại học nghiên cứu. Một hệ thống mạnh phải có sự phân tầng rõ ràng. Có những đại học tinh hoa thực hiện các nhiệm vụ quốc gia; có các cơ sở trọng điểm thực hiện nhiệm vụ vùng, ngành; có các trường đại học ứng dụng gắn với thị trường lao động và nhu cầu địa phương; đồng thời có những cơ sở tập trung vào những lĩnh vực chuyên biệt.
Việc định hướng 3-5 đại học tinh hoa và 25-30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm có thể tạo ra cấu trúc mới cho toàn hệ thống. Ở tầng cao nhất, các đại học phải đảm nhận những bài toán mà thị trường khó tự giải quyết: nghiên cứu cơ bản, công nghệ nền tảng, đào tạo nhân tài, phát triển các lĩnh vực chiến lược và tư vấn chính sách. Ở tầng tiếp theo, các đại học trọng điểm vùng, ngành cần tạo ra năng lực phục vụ các trung tâm kinh tế, các lĩnh vực sản xuất và những nhu cầu phát triển đặc thù. Còn các cơ sở khác cần được trao sứ mạng phù hợp, tránh cuộc đua mở ngành, chạy theo quy mô hay thứ hạng mà không có năng lực tương ứng.
GS.TS Phan Thanh Bình cũng nhấn mạnh rằng quản lý hiện đại không phải là quản lý giống nhau, mà là quản lý theo mục tiêu, theo sứ mệnh và theo kết quả. Mục tiêu cuối cùng của việc xây dựng đại học dẫn dắt không nên dừng ở thứ hạng quốc tế. Một trường có thể lọt vào một bảng xếp hạng nhưng chưa chắc đã tạo ra tác động tương xứng đối với năng lực quốc gia. Giá trị của một đại học trọng điểm phải được nhìn rộng hơn: đó là khả năng tạo ra đội ngũ nhân lực chất lượng cao, sản sinh tri thức mới, giải quyết các bài toán công nghệ, hình thành doanh nghiệp khoa học - công nghệ, cung cấp tư vấn chính sách và lan tỏa chuẩn mực học thuật.
Với Đại học Quốc gia Hà Nội, mục tiêu trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia trong giai đoạn 2031-2035, vào nhóm 200 đại học hàng đầu thế giới, cho thấy yêu cầu xây dựng một thiết chế có năng lực dẫn dắt. Khi Việt Nam xây dựng mạng lưới các đại học tinh hoa và đại học trọng điểm, điều cần thiết là thiết kế cơ chế để thành quả của những trường được đầu tư có thể lan tỏa. Các phòng thí nghiệm, nhóm nghiên cứu, dữ liệu khoa học, chương trình đào tạo, chuyên gia và kết quả nghiên cứu cần có khả năng kết nối với các trường khác, doanh nghiệp và địa phương.