Thứ Sáu , 23/10/2026 , 08:13:55 GMT+7

Đại học bắt tay doanh nghiệp: Lối mở nằm ở giảng đường

Thứ Năm, 22/10/2026, 08:07:32 GMT+7

Rà soát 223 công trình công bố trong hơn ba thập kỉ, một nghiên cứu quốc tế cho thấy hợp tác đại học – doanh nghiệp tại các nước hậu Xô viết vẫn gặp nhiều trở ngại do sự phụ thuộc vào Nhà nước và nhu cầu nghiên cứu hạn chế của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, hợp tác trong đào tạo được xem là hướng đi khả thi, có thể triển khai ngay tại các trường đại học.

Một trường đại học có trung tâm chuyển giao công nghệ, có doanh nghiệp khởi nguồn, có hàng loạt thỏa thuận hợp tác được ký kết, nhưng sau nhiều năm, số kết quả nghiên cứu thực sự được thương mại hóa vẫn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Tình trạng này không xa lạ tại những quốc gia từng vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, nơi quan hệ giữa trường đại học và đơn vị sản xuất trước đây chủ yếu được thiết lập theo kế hoạch của Nhà nước. Hơn ba thập kỉ sau khi Liên Xô tan rã, nhiều quốc gia hậu Xô viết vẫn đang tìm cách xây dựng quan hệ hợp tác xuất phát từ nhu cầu thực tế của cả trường đại học và doanh nghiệp.

Tạp chí giáo dục
Nguồn ảnh: Geir Mogen/NTNU

Hợp tác với doanh nghiệp có thể mang lại những thay đổi đáng kể trong hoạt động đào tạo, từ nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy đến cơ hội thực hành và phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên. Tuy nhiên, phương diện giáo dục này chưa nhận được sự quan tâm tương xứng trong các nghiên cứu về hợp tác đại học – doanh nghiệp. Đây là một trong những nội dung được Kairat Moldashev (Đại học SDU, Kazakhstan), Assylbek Nurgabdeshov (Đại học Heriot-Watt, Anh) và Sanat Kozhakhmet (Đại học Oxford Brookes, Anh) đề cập trong công trình công bố trên Journal of Pedagogical Research, số đầu năm 2026.

Từ hơn 620 bản ghi trên Web of Science, nhóm tác giả lựa chọn 223 công trình về hợp tác đại học – doanh nghiệp tại các nước hậu Xô viết, công bố trong giai đoạn 1991–2024, để phân tích trắc lượng thư mục; đồng thời phân tích sâu nội dung của 37 bài tiêu biểu. Kết quả cho thấy hoạt động nghiên cứu trong lĩnh vực này chỉ bắt đầu phát triển rõ rệt từ khoảng năm 2013 và vẫn còn hạn chế so với các nước phương Tây (Moldashev và cộng sự, 2026).

Phân tích 37 công trình cho thấy một số trở ngại kéo dài trong mối quan hệ hợp tác giữa trường đại học và doanh nghiệp. Trước hết, Nhà nước vẫn giữ vai trò chi phối trong việc tài trợ nghiên cứu và định hướng chính sách. Tại một số nơi, áp lực hoàn thành chỉ tiêu dẫn đến tình trạng thành lập doanh nghiệp khởi nguồn hoặc báo cáo kết quả đổi mới sáng tạo mang tính hình thức nhằm duy trì nguồn kinh phí. Trong khi đó, nhu cầu sử dụng tri thức khoa học của doanh nghiệp còn hạn chế; nhiều công ty ưu tiên nhập khẩu công nghệ sẵn có thay vì đầu tư vào nghiên cứu cùng trường đại học. Vì vậy, hoạt động hợp tác thường tập trung vào việc tiếp nhận sinh viên thực tập và tuyển dụng nhân lực.

Trong các trường đại học, cơ chế tài trợ và đánh giá thành tích có xu hướng ưu tiên công bố quốc tế hơn so với nghiên cứu ứng dụng. Giảng viên phải đảm nhiệm khối lượng giảng dạy lớn, đồng thời gặp nhiều trở ngại về thủ tục hành chính khi tham gia hợp tác hoặc thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Ở một số trường hợp, thành lập doanh nghiệp riêng còn đồng nghĩa với việc giảng viên phải rời trường. Những điều kiện này hạn chế khả năng duy trì hợp tác thường xuyên với doanh nghiệp.

Tuy nhiên, các công trình được tổng quan cũng cho thấy triển vọng hợp tác trong hoạt động đào tạo. Một nghiên cứu do nhóm tác giả dẫn đầu lại xác định sứ mệnh đào tạo nguồn nhân lực có năng lực là yếu tố dự báo quan trọng đối với phát triển kinh tế. Theo đó, hợp tác với doanh nghiệp có thể thúc đẩy đổi mới chương trình đào tạo, mở rộng cơ hội học tập tại nơi làm việc và cải thiện khả năng tìm được việc làm của sinh viên.

Khi phòng thí nghiệm chưa "gặp" được nhà máy, giảng đường có thể là nơi bắt đầu.

Từ kết quả tổng quan, nhóm tác giả đề xuất một số hình thức hợp tác có thể triển khai trong ngắn hạn, như tổ chức học phần do giảng viên và chuyên gia doanh nghiệp cùng giảng dạy, đưa yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vào đồ án tốt nghiệp, tổ chức hướng dẫn luận văn với sự tham gia của cả hai phía. Bên cạnh đó, việc xây dựng các mẫu hợp đồng và thỏa thuận sở hữu trí tuệ đơn giản có thể giúp giảm thủ tục, tạo điều kiện thuận lợi cho các bên tham gia.

Những đề xuất này xuất phát từ thực tế là hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại nhiều quốc gia hậu Xô viết còn hạn chế, trong khi các điều kiện về thể chế chưa thật sự thuận lợi. So với những dự án nghiên cứu và chuyển giao công nghệ quy mô lớn, hợp tác trong đào tạo có thể dễ triển khai hơn, đồng thời tạo cơ hội để trường đại học và doanh nghiệp từng bước phát triển mối quan hệ lâu dài.

Nghiên cứu cũng cho thấy hạn chế của những chính sách chỉ chú trọng đến các biện pháp khuyến khích tài chính hoặc lấy số hợp đồng, số doanh nghiệp khởi nghiệp làm thước đo thành tích. Các chỉ tiêu này có thể phản ánh quy mô hoạt động nhưng chưa đủ để đánh giá chất lượng và hiệu quả của sự hợp tác. Khi áp lực hoàn thành chỉ tiêu quá lớn, các trường có thể ưu tiên đáp ứng các yêu cầu hành chính thay vì phát triển những hoạt động mang lại lợi ích thiết thực.

Một nội dung đáng chú ý khác là mâu thuẫn giữa yêu cầu công tác và cơ chế đánh giá giảng viên. Giảng viên được kì vọng đồng thời bảo đảm chất lượng giảng dạy, duy trì công bố quốc tế và tích cực hợp tác với doanh nghiệp, trong khi cơ chế đánh giá và tài trợ lại chủ yếu ghi nhận thành tích công bố. Theo nhóm tác giả, mâu thuẫn về vai trò và động lực này cần được nghiên cứu sâu hơn để giải thích sự khác biệt về hiệu quả hợp tác giữa các trường đại học (Moldashev và cộng sự, 2026).

Dù vậy, kết quả nghiên cứu cần được tiếp nhận một cách thận trọng. Dữ liệu chỉ bao gồm các công trình tiếng Anh được lập chỉ mục trên Web of Science, nên có thể bỏ sót nhiều nghiên cứu công bố bằng ngôn ngữ bản địa. Bên cạnh đó, phương pháp trắc lượng thư mục và tổng quan tài liệu chưa cho phép đánh giá trực tiếp hiệu quả của từng hình thức hợp tác. Vì thế, nhóm tác giả đề xuất tăng cường các nghiên cứu theo dõi dài hạn về hoạt động của trường đại học và doanh nghiệp, tìm hiểu động lực và mức độ tin cậy giữa các bên, đồng thời đánh giá các kết quả giáo dục cụ thể như đổi mới chương trình đào tạo và khả năng có việc làm của sinh viên.

Từ những phát hiện trên, có thể rút ra một số gợi ý tham khảo cho Việt Nam. Dù không nằm trong phạm vi nghiên cứu, Việt Nam cũng đã trải qua quá trình chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường. Những năm gần đây, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và giáo dục đại học đã có nhiều thay đổi theo hướng tăng quyền chủ động của các cơ sở đào tạo, thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 nhấn mạnh vai trò của các cơ sở giáo dục đại học trong nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo. Nghị quyết số 193/2025/QH15 đưa ra một số cơ chế, chính sách đặc biệt, trong đó có nội dung liên quan đến việc chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ. Luật Giáo dục đại học năm 2025 tiếp tục tạo cơ sở pháp lí cho hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và phát triển doanh nghiệp từ kết quả nghiên cứu của các cơ sở giáo dục đại học (Tạp chí Quản lý nhà nước, 2026; Diễn đàn Doanh nghiệp, 2026).

Tuy nhiên, kinh nghiệm từ các quốc gia hậu Xô viết cho thấy những thay đổi về cơ chế, chính sách cần đi kèm với việc điều chỉnh cách tổ chức và đánh giá hoạt động hợp tác. Nếu thành tích của trường đại học chủ yếu được xác định bằng số hợp đồng chuyển giao hay số doanh nghiệp khởi nguồn, các hoạt động hợp tác có thể gia tăng về số lượng nhưng chưa mang lại kết quả tương xứng. Vì vậy, bên cạnh các tiêu chí về nghiên cứu và thương mại hóa, cần quan tâm đến mức độ tham gia thực chất của doanh nghiệp trong đào tạo, khả năng ứng dụng kết quả nghiên cứu và những cải thiện về năng lực nghề nghiệp của sinh viên.

Ở cấp nhà trường, hợp tác trong đào tạo là hướng có thể ưu tiên triển khai trong ngắn hạn. Các cơ sở đào tạo có thể đưa yêu cầu thực tế của doanh nghiệp vào học phần, đồ án và khóa luận tốt nghiệp; mời chuyên gia doanh nghiệp tham gia giảng dạy, hướng dẫn sinh viên; đồng thời xây dựng những mẫu thỏa thuận hợp tác và sở hữu trí tuệ phù hợp để giảm thủ tục. Cùng với đó, cần điều chỉnh khối lượng giảng dạy và cơ chế đánh giá giảng viên, bảo đảm những đóng góp trong nghiên cứu ứng dụng, hợp tác với doanh nghiệp và phát triển chương trình đào tạo được ghi nhận tương xứng.

Đối với giới nghiên cứu trong nước, công trình của Moldashev và cộng sự (2026) cũng gợi ý hướng khảo sát dài hạn về quan hệ hợp tác giữa đại học và doanh nghiệp tại Việt Nam. Những nghiên cứu này có thể kết hợp tài liệu tiếng Việt với các nguồn dữ liệu quốc tế, theo dõi quá trình triển khai chính sách và đánh giá những thay đổi thực tế trong hoạt động nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao công nghệ.

Hiệu quả hợp tác đại học – doanh nghiệp cần được đánh giá qua những kết quả cụ thể, từ cải tiến chương trình đào tạo, nâng cao năng lực nghề nghiệp của sinh viên đến nghiên cứu ứng dụng và chuyển giao công nghệ. Trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế, hợp tác trong đào tạo có thể là bước khởi đầu phù hợp để các trường đại học và doanh nghiệp xây dựng mối quan hệ lâu dài, tạo tiền đề mở rộng hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.

Nguồn tham khảo

Moldashev, K., Nurgabdeshov, A., & Kozhakhmet, S. (2026). University-industry collaboration in post-Soviet states: A bibliometric study with implications for educational policy and practice. Journal of Pedagogical Research, 10(1), 37–57. https://doi.org/10.33902/JPR.202639742

Tạp chí Quản lý nhà nước (2026, 9 tháng 10). Thể chế về nghiên cứu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo. https://www.quanlynhanuoc.vn/2026/10/09/the-che-ve-nghien-cuu-khoa-hoc-cong-nghe-va-doi-moi-sang-tao-trong-linh-vuc-giao-duc-va-dao-tao/

Diễn đàn Doanh nghiệp (2026). Mở đường cho doanh nghiệp spin-off. https://diendandoanhnghiep.vn/mo-duong-cho-doanh-nghiep-spinoff-10181132.html

PV/BTV

Nguyễn Lê Vân An

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận