Thứ Sáu , 16/10/2026 , 14:39:58 GMT+7

Giáo dục đại học trước yêu cầu mới: Rõ chỉ tiêu, rõ dữ liệu, rõ trách nhiệm

Model?.data?.author?.Name
Hà Giang

Phóng viên

Thứ Năm, 08/10/2026, 13:41:08 GMT+7

Năm học 2026-2027 đặt giáo dục đại học trong yêu cầu mới về quản trị dựa trên dữ liệu, nâng cao chất lượng thực chất, đổi mới sáng tạo trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo và tăng năng lực nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Sau một năm học với nhiều chuyển động về cơ cấu đào tạo, tuỷen sinh, phát triển đội ngũ, nghiên cứu khoa học và bảo đảm chất lượng, giáo dục đại học bước vào năm học 2026-2027 với yêu cầu tạo ra những kết quả có thể đo lường và kiểm chứng.

Theo định hướng được Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt ra, nhiệm vụ năm học mới được gắn với 16 chỉ số của Chiến lược phát triển giáo dục đại học theo Quyết định 1810/QĐ-TTg. Mỗi nhiệm vụ phải gắn với kết quả có thể đo lường, dữ liệu phải được đối soát và xác định rõ đầu mối chịu trách nhiệm. Nguyên tắc đặt ra là “một chỉ tiêu, một số liệu đã đối soát, một đầu mối chịu trách nhiệm”. Năm học mới có thể xem là giai đoạn tăng tốc để đưa những mục tiêu thành kết quả thực tế.

Tạp chí giáo dục
Nguyên tắc đặt ra cho giáo dục đại học là “một chỉ tiêu, một số liệu đã đối soát, một đầu mối chịu trách nhiệm" (Nguồn: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Thu hẹp khoảng cách bằng quản trị dựa trên dữ liệu

Một trong những nhiệm vụ quan trọng của giáo dục đại học năm học này là tiếp tục hoàn thiện phương thức quản trị, trong đó dữ liệu phải trở thành nền tảng cho việc ra quyết định. Theo các chỉ số được công bố trong định hướng nhiệm vụ năm học 2026-2027, tỷ lệ cơ sở giáo dục đại học đạt chuẩn hiện ở mức 96,3%, tiến khá gần mục tiêu 100% vào năm 2030. Tỷ lệ người học đại học trong nhóm tuổi 18-22 đạt 35,4%, trong khi mục tiêu là 38%; tỷ lệ người học STEM đạt 32,63%, thấp hơn mục tiêu 35%. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ đạt 36,3%, còn mục tiêu năm 2030 là 40%. Đáng chú ý, tỷ lệ người học sau đại học mới đạt 5,3%, trong khi mục tiêu là 10%.

Ở các chỉ tiêu về quốc tế hóa và khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, khoảng cách còn khá rõ. Sinh viên quốc tế hiện chiếm khoảng 0,8% tổng số người học, so với mục tiêu 1,5%; tỷ trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt 4,94%, trong khi mục tiêu đến năm 2030 là 10%. Những con số này cho thấy nhiệm vụ của năm học mới là những hoạt động cần tạo ra chuyển biến đối với chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu, việc làm của người học và đóng góp cho phát triển kinh tế - xã hội. Để làm được điều đó, hệ thống dữ liệu giáo dục đại học cần tiếp tục được chuẩn hóa và liên thông. Dữ liệu tuyển sinh, quy mô người học, đội ngũ, chương trình đào tạo, kết quả học tập, nghiên cứu khoa học, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp sẽ là cơ sở để cơ quan quản lý nhận diện xu hướng, còn các trường có thể đánh giá chính xác hơn điểm mạnh, điểm yếu của chính mình.

Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng định hướng từng bước kết nối dữ liệu giáo dục đại học với dữ liệu dân cư, khoa học, tài chính, bảo hiểm, thuế và việc làm. Đây là nền tảng để chuyển từ quản lý dựa nhiều vào báo cáo sang quản trị dựa trên bằng chứng.

Việc triển khai nhiệm vụ này cần đi cùng trách nhiệm cụ thể của từng cơ sở giáo dục đại học. Theo định hướng năm học, tiến độ, đầu mối, nguồn lực và sản phẩm của 40/46 nhiệm vụ chiến lược sẽ được rà soát, các mốc kiểm tra cần được công khai. Cách làm này sẽ góp phần hạn chế tình trạng nhiệm vụ được xác định đầy đủ nhưng khó đánh giá mức độ hoàn thành.

Chất lượng đào tạo phải được kiểm chứng từ đầu ra

Một trong những yêu cầu được đặt ra trong năm học mới là tăng cường chất lượng bên trong và hậu kiểm. Các cơ sở giáo dục đại học cần rà soát chuẩn đầu ra, kiểm soát sự phù hợp giữa chương trình đào tạo với năng lực người học, đồng thời theo dõi kết quả học tập để hạn chế tình trạng “lạm phát điểm số”. Văn bằng chỉ có ý nghĩa khi phản ánh tương đối chính xác năng lực mà người học thực sự có sau quá trình đào tạo.

Định hướng này càng trở nên cần thiết trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi cách người học tiếp cận tri thức, thực hiện bài tập và tạo ra sản phẩm học tập. Nếu phương thức kiểm tra, đánh giá vẫn chủ yếu dựa vào những bài làm có thể dễ dàng được công cụ AI hỗ trợ, nhà trường sẽ khó xác định chính xác năng lực cá nhân của người học.

Do đó, một nhiệm vụ quan trọng trong năm học 2026-2027 là đổi mới cách đánh giá theo hướng chú trọng sản phẩm, thực hành, dự án, nghiên cứu và vấn đáp; đồng thời xác định rõ những năng lực mà người học phải trực tiếp thể hiện. Việc ứng dụng AI trong giáo dục đại học không nên chỉ dừng ở việc đưa thêm một số công cụ vào lớp học, mà phải kéo theo thay đổi về nội dung chương trình, phương pháp giảng dạy và cách đánh giá. Đáng chú ý, định hướng mới đặt ra yêu cầu năng lực AI cần được tích hợp phù hợp vào từng lĩnh vực thông qua các cách tiếp cận như AI+X hoặc X+AI. Sinh viên kỹ thuật, kinh tế, y tế, giáo dục, truyền thông hay luật đều có thể cần những mức độ và cách thức sử dụng AI khác nhau.

Điều này đặt ra yêu cầu các trường phải rà soát lại chương trình đào tạo. Những chương trình không đáp ứng chuẩn đầu ra cần được cải tiến, hoặc dừng tuyển sinh khi không còn phù hợp. Ngược lại, những chương trình đáp ứng nhu cầu nhân lực mới cần tăng cường liên kết với doanh nghiệp, hiệp hội nghề nghiệp và các tổ chức sử dụng lao động.

Thực tế tuyển sinh năm 2026 cũng cho thấy xu hướng lựa chọn ngành STEM tiếp tục được quan tâm. Theo các chỉ số của chiến lược, tỷ lệ người học STEM hiện đạt 32,63%, tiến gần mục tiêu 35% vào năm 2030. Tuy nhiên, vấn đề quan trọng là chất lượng đào tạo, khả năng thực hành, nghiên cứu và mức độ đáp ứng nhu cầu nhân lực của các ngành này.

Vì vậy, năm học mới cần thúc đẩy mạnh hơn mối liên kết giữa nhà trường và thị trường lao động. Việc theo dõi người học sau tốt nghiệp, mức độ phù hợp của việc làm, thu nhập, quá trình phát triển nghề nghiệp sẽ cung cấp những bằng chứng quan trọng để nhà trường điều chỉnh chương trình. Khi dữ liệu tuyển sinh được nối với dữ liệu đào tạo và việc làm, trường đại học sẽ có thêm căn cứ để trả lời câu hỏi căn bản: chương trình mình đang đào tạo có thực sự tạo ra giá trị cho người học hay không.

Tăng tốc nghiên cứu, đổi mới sáng tạo và hội nhập

Bên cạnh đào tạo, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo tiếp tục là nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục đại học trong năm học mới. Khoảng cách giữa tỷ trọng đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo hiện nay với mục tiêu 10% vào năm 2030 cho thấy đây sẽ là một trong những lĩnh vực cần tăng tốc.

Định hướng mới đặt trọng tâm vào nghiên cứu có sản phẩm và có tác động. Theo đó, mục tiêu được đặt ra là hình thành 20-25 trung tâm xuất sắc cấp quốc gia và 10 trung tâm cấp quốc tế; xây dựng 30 cơ sở giáo dục đại học trọng điểm và 3-5 đại học tinh hoa, đồng thời gắn phòng thí nghiệm với doanh nghiệp và các trường đại học có uy tín. Nghiên cứu khoa học không chỉ được đo bằng số lượng đề tài hay bài báo, mà cần được nhìn từ sản phẩm nghiên cứu, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn và đóng góp cho nền kinh tế.

Đây cũng là lúc cần làm rõ hơn vai trò của trường đại học trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp, mà cần tham gia từ khâu xác định nhu cầu nhân lực, xây dựng chương trình, tổ chức thực hành đến đặt hàng nghiên cứu. Ngược lại, trường đại học cần tăng khả năng chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành sản phẩm, công nghệ và giải pháp phục vụ xã hội.

Cùng với đó là nhiệm vụ tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ. Tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ hiện nay là 36,3%. So với mục tiêu 40% vào năm 2030, con số này cho thấy vẫn còn dư địa để phát triển đội ngũ có năng lực nghiên cứu và đào tạo ở trình độ cao. Tuy nhiên, nâng tỷ lệ tiến sĩ cũng cần đi cùng chất lượng thực chất, cơ chế sử dụng và môi trường học thuật. Mục tiêu cuối cùng không phải chỉ là tăng một tỷ lệ thống kê, mà là tạo ra đội ngũ có khả năng dẫn dắt chuyên môn, nghiên cứu và đổi mới chương trình đào tạo.

Một nhiệm vụ khác không thể tách rời là quốc tế hóa. Tỷ lệ sinh viên quốc tế mới khoảng 0,8%, trong khi mục tiêu năm 2030 là 1,5%,. Như vậy, các trường cần tiếp tục đẩy mạnh việc xây dựng chương trình bằng tiếng nước ngoài, thu hút người học quốc tế, mở rộng hợp tác nghiên cứu và nâng vị thế học thuật.

Năm học mới là giai đoạn quan trọng để giáo dục đại học thu hẹp khoảng cách với các mục tiêu 2030. Khi chất lượng được đặt ở trung tâm, dữ liệu trở thành công cụ quản trị và kết quả thực tế trở thành thước đo, những thay đổi của giáo dục đại học sẽ có cơ sở để hoàn thành những mục tiêu phát triển trong những năm tới.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận