Chủ Nhật , 19/04/2026 , 18:08:32 GMT+7

Sứ mệnh của Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn khởi đầu vào Kỷ nguyên số

Thứ Năm, 16/04/2026, 11:29:29 GMT+7

Năm 2026 mở ra thời điểm đặc biệt khi đất nước chính thức bước vào kỷ nguyên số – kỷ nguyên của chuyển đổi số toàn diện, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững. Trong bối cảnh đó, giáo dục không chỉ là lĩnh vực đồng hành mà phải giữ vai trò tiên phong, định hình nguồn nhân lực và kiến tạo nền tảng tri thức cho quốc gia.

Vận hội mới của một quốc gia số

Tổng Bí thư Tô Lâm đã đề cập vấn đề kỷ nguyên số trong bối cảnh thực hiện cách mạng chuyển đổi số, cải cách mạnh mẽ và toàn diện các hoạt động trong mọi lĩnh vực của đời sống nhằm điều chỉnh quan hệ sản xuất và tạo động lực mới cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Tạp chí giáo dục
Đại hội đảng toàn quốc lần thứ XIV. (Nguồn ảnh: TTXVN)
Kỷ nguyên số là một xu thế phát triển của thế giới hiện đại, được bắt đầu từ thời điểm chuyển đổi công nghệ cơ khí và điện tử Analog sang điện tử kỹ thuật số, đánh dấu sự ra đời của máy tính kỹ thuật số và sự lưu trữ dữ liệu số. Tùy thuộc vào sự phát triển này mà thời điểm đi vào kỷ nguyên số của mỗi quốc gia không trùng hợp với các quốc gia khác.
Tạp chí giáo dục
Hai yếu tố chính của kỷ nguyên số là kinh tế số và xã hội số (ảnh minh họa, nguồn internet)

Hai yếu tố chính của kỷ nguyên số là kinh tế số và xã hội số. Trong đó, Kinh tế số là nền kinh tế, trong đó mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ được thực hiện thông qua nền tảng kỹ thuật số, bao gồm thương mại điện tử, tài chính số, kinh tế chia sẻ. Kinh tế số có 3 thành phần cơ bản gồm: Kinh tế số ICT: Công nghiệp công nghệ thông tin và dịch vụ viễn thông; Kinh tế số Internet: Các hoạt động của kinh tế đều phải dựa vào Internet; Kinh tế số của các ngành: Chuyển đổi số và ứng dụng công nghệ trong các ngành truyền thống (ngân hàng số, nông nghiệp thông minh, du lịch thông minh). Xã hội số là xã hội mà công nghệ kỹ thuật số tích hợp sâu rộng vào mọi hoạt động đời sống từ kinh tế, văn hóa đến quản trị. Người sử dụng công nghệ, dữ liệu để kết nối, tương tác và làm việc là công dân số.

Chuyển đổi số là động lực để kết nối kinh tế số với xã hội số. Việt Nam đi vào kỷ nguyên số bắt đầu từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV (1/2026). Giai đoạn đầu tiên của kỷ nguyên số ở Việt Nam là nhiệm kỳ của Đại hội XIV: 2026 - 2030. Sự định vị kỷ nguyên số thể hiện ở các điểm cơ bản sau đây:
Thứ nhất, kỷ nguyên số là cơ hội quan trọng để Việt Nam vươn mình, phát triển nhanh và bền vững, phù hợp với yêu cầu thời đại.
Thứ hai, kỷ nguyên số lấy chuyển đổi số làm động lực quan trọng để phát triển lực lượng sản xuất và hoàn thiện quan hệ sản xuất.
Thứ ba, trong kỷ nguyên số sẽ có cách mạng điều chỉnh quan hệ sản xuất, tạo động lực mới, tranh thủ tối đa các cơ hội từ cách mạng công nghiệp 4.0.
Thứ tư, kỷ nguyên số giúp Việt Nam vươn lên vị thế cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Kinh nghiệm quốc tế bước vào kỷ nguyên số

Với những quốc gia đi vào kỷ nguyên số sớm hơn Việt Nam, họ hướng tới năm 2045 để chuyển xã hội số hiện nay của họ sang xã hội thông minh. Điều này, có thể Nhật Bản sẽ đạt mục tiêu đó sớm hơn, vì từ năm 2016, năm mà Hội đồng khoa học, công nghệ và sáng tạo của họ đã thiết kế mô hình xã hội 5.0, hướng tới một xã hội thông minh (Smart Society), sau giai đoạn phát triển xã hội tri thức (Knowledge Society).

Bốn yếu tố kỹ thuật của xã hội thông minh của Nhật Bản là:

Yếu tố thứ nhất, trí tuệ nhân tạo (AI): Sử dụng AI để phân tích số lượng lớn những dữ liệu, đưa ra những giải pháp tối ưu và giải pháp vượt trội so với trí tuệ con người.
Thứ hai, dữ liệu lớn (Big Data): Thu thập dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau qua IoT và cảm biến để phân tích và tạo ra giá trị mới.

Thứ ba, Robot và Tự động hóa: Tối ưu hóa sự tham gia của hệ thống Robot trong mọi hoạt động, giúp con người giải quyết những nhiệm vụ đòi hỏi độ chính xác cao.
Thứ tư, Internet kết nối vạn vật: Kết nối “vạn vật - con người - các hệ thống”, tạo thành mạng lưới thông minh và hiệu quả.

Hiện các thành phố lớn của Nhật Bản như Tokyo, Osaka, Fufuoka đang nỗ lực tích hợp không gian thực và ảo, sử dụng AI và Big Data, Robot và IoT để giải quyết vấn đề già hóa dân số, thiếu hụt lao động và biến đổi khí hậu.

Cùng với Nhật Bản, nhiều quốc gia khác cũng bước vào vòng đua tới đích xã hội thông minh. Ở Hàn Quốc từ khoảng 2009 -2011, Seoul bắt đầu nổi tiếng về giao thông thông minh, quản lý nước thải, dịch vụ công kỹ thuật số, phát triển hạ tầng số, các công nghệ số mới nổi.

Năm 2014, Singapore đã đẩy mạnh triển khai dự án “Smart Nation” (Quốc gia thông minh), phát triển các thành phố thông minh.

Từ năm 2011, Vương quốc Anh đã triển khai nhiều biện pháp nhằm xây dựng định danh số thống nhất (One Login) để người dân dễ dàng sử dụng các dịch vụ công và tư, hoàn thiện khung pháp lý về an ninh mạng, thúc đẩy hợp tác công - tư và tạo ra đời sống hạnh phúc cho người cao tuổi.

Năm 2015, Hoa Kỳ đã tập trung phát triển đô thị thông minh, đầu tư mạnh mẽ vào công nghệ, xây dựng nền tảng Mobility as a service (MaaS) để dân chúng thuận lợi thanh toán cho các phương tiện giao thông qua một ứng dụng duy nhất.

Sau chương trình Industry 4.0, Đức đẩy mạnh việc ứng dụng AI để dự báo tai nạn lao động, phân bố thanh tra an toàn lao động hợp lý.

Từ 2013 - 2015, Trung Quốc đã tăng cường ứng dụng Big Data trong quản lý dân cư và phúc lợi xã hội, đầu tư quy mô lớn cho chương trình phát triển các thành phố thông minh.

Năm 2015, Ấn Độ đã triển khai Đề án “Ấn Độ số” (Digital India), số hóa 14 thành phố và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ di động, Chính phủ số.

Từ khoảng 1997–2000, Estonia đã xây dựng thành công mô hình e-Estonia, trở thành quốc gia điện tử phát triển nhất thế giới.

Có thể thấy giai đoạn 2014–2016 là thời điểm nhiều quốc gia chính thức tuyên bố bước vào kỷ nguyên số, xã hội thông minh, gắn với AI, Big Data, IoT và Robot – đúng với 4 yếu tố kỹ thuật bạn nêu trong mô hình xã hội thông minh của Nhật Bản.

Các thông tin trên đây cho thấy dù rất chủ động nhưng Việt Nam đi vào Kỷ nguyên số còn chậm hơn nhiều quốc gia. Song, con đường đi vào kỷ nguyên số của Việt Nam sẽ có thời gian rút ngắn và ở đoạn cuối của kỷ nguyên số vẫn có mục tiêu một xã hội Việt Nam thông minh, một dân tộc Việt Nam thông thái nếu như chúng ta tiến vào kỷ nguyên số với tốc độ thiên lý mã của con tuấn mã Bính Ngọ ngay từ giây phút đầu tiên của dàn pháo hoa đêm giao thừa Bính Ngọ.

Sứ mệnh của Giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu vào kỷ nguyên số

Giáo dục Việt Nam cần xác lập sứ mệnh như một “tuyên ngôn hành động” với ba định hướng lớn:

Thứ nhất, Phát triển con người toàn diện trong bối cảnh số: Giáo dục Việt Nam hướng tới mục tiêu phát huy tối đa năng lực cốt lõi của mỗi cá nhân – bao gồm phẩm chất công dân, năng lực số, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với chuyển đổi xanh và chuyển đổi số. Đây là nền tảng để hình thành công dân số và tiến tới công dân toàn cầu, giai đoạn 2026 - 2030.

Thứ hai, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Nguồn nhân lực trong giai đoạn mới không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường lao động mà còn phải dẫn dắt đổi mới sáng tạo. Do đó, đào tạo nhân lực tại chỗ và nhân lực tương lai thành một lực lượng lao động chất lượng cao, đủ sức tạo nên những đột phá trong chiến lược phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia và phát triển giáo dục và đào tạo.

Thứ ba, tiếp tục quá trình đổi mới căn bản mô hình giáo dục: Tạo nên một cuộc cách mạng thay đổi triệt để mô hình giáo dục truyền thống, xây dựng mô hình giáo dục mở (mô hình xã hội học tập) mang những nét đặc trưng của Văn hóa Việt Nam, tiếp cận và hội nhập với xu thế vĩ mô của sự phát triển giáo dục của thế giới hiện đại.

Sự phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên số cần theo một lối đi riêng, không cóp nhặt nguyên mẫu các mô hình phát triển giáo dục của những quốc gia phát triển và cũng không coi những kinh nghiệm thành công của họ như những tín điều. Chỉ bằng lối đi riêng mới đi nhanh và mới hi vọng có được vị trí của top đầu về phát triển giáo dục trong khu vực và trên thế giới.
“Sự phát triển giáo dục Việt Nam trong giai đoạn đầu của kỷ nguyên số cần theo một lối đi riêng. Chỉ bằng lối đi riêng mới đi nhanh và mới hi vọng có được vị trí của top đầu về phát triển giáo dục trong khu vực và trên thế giới.”

Những nhiệm vụ trọng tâm

Phổ cập giáo dục trung học – nền tảng của nguồn nhân lực số
Trên quan điểm của Đảng và Nhà nước, phổ cập giáo dục trung học cần được xác định là mục tiêu chiến lược. Đồng thời, hệ thống đại học phải mở rộng theo hướng linh hoạt, phát triển các khóa học chính quy và không chính quy, tạo cơ hội để mọi thanh niên sau trung học đều có thể tiếp cận học vấn đại học dưới nhiều hình thức đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của các ngành nghề tuyển dụng lao động.

Trong hệ thống giáo dục trung học, cần tập trung đào tạo 2 chương trình: Chương trình dành cho những học sinh nổi trội về năng lực kỹ thuật - công nghệ để đi vào hệ đại học công nghệ như lĩnh vực giao thông, xây dựng, công nghệ thông tin, logistic, cơ khí... và chương trình dành cho học sinh trung học bộc lộ năng khiếu sư phạm, y tế, lịch sử, địa lý,... Như vậy, Giáo dục Trung học cần tập trung giáo dục hướng nghiệp và giáo dục khởi nghiệp theo hướng đại học kỹ thuật - công nghệ và đại học xã hội - nhân văn. Đối với học sinh không theo học đại học, hệ thống trung tâm đào tạo nghề gắn với doanh nghiệp cần được tổ chức linh hoạt theo nhu cầu địa phương.
Tạp chí giáo dục
Giai đoạn 2026-2030, ngành Giáo dục cần tập trung xây dựng các trường học số và đảm bảo tiếp cận công bằng.(Ảnh minh họa, nguồn Iternet)

Xây dựng trường học số và bảo đảm công bằng tiếp cận

Giai đoạn 2026-2030, ngành Giáo dục cần tập trung xây dựng các trường học phổ thông các cấp theo mô hình trường học hạnh phúc, trường học xanh, trường học điện tử như Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng yêu cầu. Về thực chất, dù dưới hình thức nào thì các mô hình trường học này đều được xây dựng trên nền tảng kết nối các công nghệ số trong toàn bộ hoạt động của nhà trường.

Đặc biệt, vùng miền núi, hải đảo và khu vực khó khăn phải được ưu tiên đầu tư hạ tầng số nhằm thu hẹp khoảng cách phát triển. Nhà nước cần có kế hoạch đầu tư để các mô hình trường học nói trên nhanh chóng phủ kín các địa bàn hiện đang khó khăn về kinh tế và về hạ tầng giao thông liên xã, liên tỉnh. Con em các dân tộc thiểu số, con em người lao động vùng núi, vùng biển vốn đã nhiều năm thiếu những cơ hội và điều kiện học tập hiện đại. Làm tốt điều này là hướng đầu tư tạo nguồn lao động chất lượng cao tương lai, tạo động lực phát triển chiến lược kinh tế - xã hội cho những vùng mà còn nhiều tiềm năng.

Cùng với việc nhà nước nâng cấp cho các trường phổ thông theo hướng chuyển đổi số, khuyến khích các doanh nghiệp lớn, các tập đoàn sản xuất mở các trường phổ thông liên cấp (K-12), để góp phần thực hiện phổ cập giáo dục phổ thông trung học. Đây là hướng xã hội hóa giáo dục cần thiết. Nên loại bỏ các trường tư thiếu thầy giỏi, thiếu cơ sở vật chất, hoạt động vì lợi nhuận hơn là vì chất lượng đào tạo.

Đại học – trung tâm đổi mới sáng tạo quốc gia
Tạp chí giáo dục
Đại học Quốc gia Hà Nội đã triển khai Dự án xây dựng Viện và Trung tâm nghiên cứu liên ngành tại Hòa Lạc (Nguồn ảnh: VNU)

Trong kỷ nguyên số, các trường đại học được đặt là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, gắn kết chặt chẽ với nền kinh tế thực, không phải là nơi luyện thi, cũng không phải nơi cấp bằng mà không dùng được trong các doanh nghiệp. Giáo dục đại học có trách nhiệm chính đào tạo nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động thay đổi liên tục do nhiều nghề cũ bị thay thế bằng nhiều nghề mới, do công nghệ sản xuất thay đổi nhanh chóng. Các lĩnh vực công nghệ cao như trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, kinh tế số... không có cơ sở đào tạo nào thay thế trường đại học.

Tạp chí giáo dục
Đại học Quốc gia Hà Nội đang xây dựng tại Hòa Lạc trở thành trung tâm đô thị đại học thông minh, hiện đại, tham gia hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia (Nguồn ảnh: VNU)

Trong kỷ nguyên số, Trường đại học phải trở thành nơi thúc đẩy nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, phát triển và thương mại hóa các kết quả nghiên cứu; Là trung tâm ứng dụng công nghệ thông tin, trí tuệ nhân tạo, mô phỏng ảo, học liệu số, tạo nên những môi trường học tập đa chiều, cá nhân hóa trong học tập, khuyến khích người học tự chủ học hỏi và sáng tạo; Là trung tâm của giáo dục khởi nghiệp, lập nghiệp, giúp sinh viên tự kiến tạo tri thức, hướng sinh viên phát triển theo tinh thần khai phóng, phát huy tận lực tiềm lực trong mỗi sinh viên; Trường đại học phải là một đơn vị tự chủ trong hợp tác quốc tế, liên kết với các trường đại học trong nước và ngoài nước, gắn kết với các tập đoàn kinh tế.

Tạp chí giáo dục
Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh đã khởi công xây dựng Trung tâm Đổi mới sáng tạo quốc gia từ năm 2024 (Nguồn ảnh: Tuoitre.vn).

Kỷ nguyên số cần các trường đại học tạo cho quốc gia có vị thế cao trong mối quan hệ quốc tế, tạo cho nền kinh tế quốc gia có năng lực cạnh tranh hiệu quả. Mỗi trường đại học là một pháo đài bảo vệ đất nước trong tiến trình hiện đại hóa mà kỷ nguyên số yêu cầu.

Giáo dục người lớn và “bình dân học vụ số”

Với giáo dục người lớn (Adult Education), cần triển khai đồng thời chương trình triển khai chủ trương Bình dân học vụ số và có kế hoạch tổ chức xóa mù số cho mọi người lớn trên mọi địa bàn dân cư. Đồng thời, phát triển các khóa học mở tại các trường đại học dành cho người lớn, đặc biệt là cho cán bộ, công chức, viên chức.
Bên cạnh đó, cần xây dựng mô hình công dân số với những năng lực cốt lõi mà kỷ nguyên số yêu cầu. Mô hình công dân số là cơ sở để đào tạo những công dân toàn cầu. Ngành giáo dục có trách nhiệm chính với công việc này, bởi công dân số và công dân toàn cầu là mục tiêu đào tạo của trường phổ thông và trường đại học.


Năm 2025 đã khép lại khi mô hình xã/phường học tập đã được định hình trên nền tảng 5 mô hình học tập và đã được triển khai trên mọi địa bàn dân cư. Tại cấp hành chính xã, một xã được công nhận đạt danh hiệu xã học tập khi 5 mô hình học tập đạt tới một tỷ lệ do nhà nước quy định. 5 mô hình đó là: Gia đình học tập, Dòng họ học tập, Cộng đồng học tập, Đơn vị học tập và Công dân học tập. Trong 5 mô hình này, Công dân học tập là yếu tố chất lượng của 4 mô hình còn lại. 4 mô hình còn lại là những môi trường nuôi dưỡng mô hình Công dân học tập phát triển.

Khi xã hội học tập trên địa bàn hành chính cấp xã đã trở thành mô hình chính thức và phổ biến khắp trong cả nước thì công việc tiếp theo là xây dựng mô hình xã hội học tập trên địa bàn tỉnh/thành phố. Việc xây dựng tỉnh học tập, thành phố học tập có 2 hướng:

Hướng thứ nhất: Xác định tỷ lệ số xã/phường học tập tới mức độ nào đó thì công nhận tỉnh học tập, thành phố học tập. Theo hướng này, năm 2026 chưa triển khai vì Chính phủ chưa có Quyết định về mô hình học tập cấp hành chính tỉnh.

Hướng thứ hai: Theo Kết luận số 49-KL/TW (10/5/2019) của Ban Bí thư, cần tham gia mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu (Global Learning City) do UNESCO điều hành. Theo hướng này, tính đến tháng 12/2025, Việt Nam đã có 6 thành phố được UNESCO công nhận là thành phố học tập toàn cầu. Đó là: Vinh, Cao Lãnh, Sa Đéc, Sơn La, thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội. Hiện đã có hơn 10 thành phố khác ở Việt Nam đã đăng ký với UNESCO để được thẩm định đủ điều kiện trở thành thành viên của Mạng lưới Thành phố học tập toàn cầu. Theo hướng này, chỉ cần phát triển thành phố theo Bộ tiêu chí do UNESCO ban hành. Khi đã trở thành thành viên của mạng lưới thì cũng có nghĩa chúng ta đã hội nhập sâu vào trào lưu xây dựng Xã hội học tập trên toàn thế giới.

Tạp chí giáo dục
4 nhiệm vụ trọng tâm của ngành Giáo dục bước vào Kỷ nguyên số - GS. TS. Phạm Tất Dong


Kỷ nguyên số đặt giáo dục vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển quốc gia. Nếu chuyển đổi số là động lực của kinh tế và xã hội, thì giáo dục chính là nền tảng tạo nên động lực đó. Giai đoạn 2026–2030 sẽ là phép thử về năng lực đổi mới của toàn ngành. Hoặc giáo dục bứt phá, dẫn dắt quá trình chuyển đổi; hoặc tụt lại phía sau trong vòng xoáy cạnh tranh toàn cầu. Sứ mệnh đã rõ. Vấn đề còn lại là quyết tâm hành động và tổ chức thực hiện với tốc độ của thời đại số./.


PV/BTV

Trịnh Thị Thu

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận