Thứ Năm , 26/03/2026 , 10:09:58 GMT+7

Đổi mới giáo dục để phát triển con người trong kỷ nguyên số

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Ba, 03/03/2026, 09:28:28 GMT+7

Trong bối cảnh chuyển đổi sâu sắc của xã hội tri thức và tác động ngày càng rõ nét của Cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục không chỉ đứng trước yêu cầu đổi mới về mô hình quản trị, cơ chế tài chính hay phương thức đào tạo, mà còn đòi hỏi một nền tảng tư duy triết học đủ vững để định hình chính sách. Từ các trao đổi học thuật của GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, có thể thấy rõ một thông điệp xuyên suốt: muốn giáo dục thực sự trở thành động lực phát triển bền vững, cần đồng thời giải quyết bài toán phân bổ ngân sách, mở rộng quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, và xác lập lại triết lý giáo dục phù hợp với bản chất con người và mục tiêu xã hội.

Trước yêu cầu đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, nền giáo dục không chỉ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, mà còn là nền tảng quan trọng để triển khai hiệu quả, bền vững Nghị quyết 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Từ đó, có thể thấy vai trò của tư duy triết học như nền tảng để hình thành chính sách giáo dục, đồng thời đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ giữa triết lý giáo dục và chính sách giáo dục. Thực tế, dù đã có nhiều nghiên cứu riêng lẻ về hai lĩnh vực này, song những tiếp cận làm rõ mối quan hệ giữa chúng một cách cơ bản, dễ hiểu vẫn còn hạn chế. Triết lý và chính sách giáo dục, xét đến cùng, được thể hiện thông qua hệ giá trị, mục đích và mục tiêu giáo dục, cùng các giải pháp nhằm hài hòa những yêu cầu phát triển khác nhau của xã hội.

Xác định đúng khái niệm giáo dục để hoạch định chính sách hiệu quả

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, chúng ta thường quan niệm rằng, chính sách giáo dục về bản chất là luôn tốt đẹp, nên hầu như không chất vấn hoặc giải đáp các vấn đề thực chất liên quan đến các chính sách giáo dục. Chẳng hạn như liên quan đến vấn đề ngân sách giáo dục, “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, “Đầu tư cho giáo dục và khoa học là đầu tư cho phát triển”, liệu Nhà nước có cam kết đài thọ cho giáo dục hay không? Quyết định của Bộ Chính trị về việc miễn học phí cho tất cả các cấp bậc học từ mầm non đến THPT như một “đặt hàng” cụ thể cho các nhà hoạch định chính sách.

Tạp chí giáo dục
Miễn học phí, miễn tiền ăn trưa - một bước “đặt hàng” chính sách cho giáo dục toàn diện. Ảnh: Báo Dân trí

Từ đó đặt ra một câu hỏi lớn khi kết nối triết lý giáo dục với chính sách giáo dục là sự nhầm lẫn giữa khái niệm giáo dục và quan niệm về giáo dục. Sự nhầm lẫn này khiến việc xác định và hài hòa hệ giá trị xã hội với hệ giá trị của hệ thống giáo dục, cũng như vai trò của nhà trường trong việc thúc đẩy các giá trị đó, trở nên phức tạp. Nếu không nhìn nhận đầy đủ vai trò trung tâm của giá trị trong giáo dục, các chính sách giáo dục sẽ khó được xây dựng và đánh giá một cách đúng đắn.

Khi coi khái niệm giáo dục là sự chuẩn bị cho cuộc sống, cần phân biệt ba khía cạnh cơ bản: khai sáng, công dân và nghề nghiệp. Giáo dục khai sáng giúp mỗi cá nhân nhận diện, phát huy tiềm năng của bản thân, biết lựa chọn con đường sống phù hợp và chủ động thích ứng với sự phát triển của xã hội. Giáo dục công dân hình thành ý thức về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của con người trong cộng đồng. Giáo dục nghề nghiệp trang bị năng lực để con người tham gia hiệu quả vào đời sống kinh tế. Tùy cách nhấn mạnh các khía cạnh này, mỗi xã hội sẽ hình thành những quan niệm khác nhau về giáo dục, phản ánh đặc trưng văn hóa và được cụ thể hóa trong chương trình giáo dục và đào tạo.

Chính vì vậy, khi nhìn nhận việc ban hành một chính sách giáo dục cần kết hợp hài hòa nhãn quan từ “khái niệm về giáo dục” và “quan niệm về giáo dục”, hệ giá trị trong xã hội và trong hệ thống giáo dục càng tiệm cận với nhau càng làm tăng tính hiệu lực, hiệu quả của chính sách.

Giáo dục – quốc sách hàng đầu trong nền kinh tế tri thức: Thành tựu, thách thức và yêu cầu hoàn thiện thể chế

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và Cách mạng công nghiệp 4.0, giáo dục ngày càng giữ vai trò then chốt trong quá trình chuyển sang nền kinh tế tri thức. Ngay từ Đại hội VII (1992), Đảng ta đã khẳng định giáo dục và đào tạo, cùng với khoa học – công nghệ, là quốc sách hàng đầu, coi đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển. Quan điểm xuyên suốt này tiếp tục được cụ thể hóa qua nhiều nghị quyết quan trọng, đặc biệt là Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, và gần đây là Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 vừa được ban hành về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.

GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc - Nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội.

"Triết lý và chính sách giáo dục được thể hiện qua các hệ giá trị trong giáo dục, mục đích giáo dục và các mục tiêu của giáo dục; kết hợp cùng những giải pháp để hài hoà được các hệ giá trị với những mục tiêu khác nhau trong xã hội."


Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, sau hơn 10 năm triển khai Nghị quyết 29-NQ/TW, giáo dục Việt Nam đã đạt nhiều kết quả rõ nét: cả nước hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; chất lượng phổ cập tiểu học và trung học cơ sở từng bước được nâng cao. Giáo dục phổ thông chuyển mạnh từ truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực người học. Giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học có bước phát triển về quy mô và chất lượng; tự chủ đại học tạo động lực đổi mới đào tạo, nghiên cứu khoa học, gia tăng số chương trình được kiểm định và công bố quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của một số cơ sở giáo dục đại học trong khu vực và thế giới. Phương pháp dạy – học, kiểm tra đánh giá được đổi mới; đội ngũ nhà giáo từng bước được chuẩn hóa; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học có cải thiện.

Tuy nhiên, kết luận số 91-KL/TW (2024) cũng chỉ rõ nhiều hạn chế còn tồn tại. Nổi bật là việc thể chế hóa Nghị quyết 29 thành chính sách, pháp luật còn chậm, đặc biệt trong các cơ chế về nhân lực và tài chính. Tự chủ giáo dục triển khai chưa đồng bộ; liên thông giữa các cấp học còn bất cập; giáo dục nghề nghiệp và đại học chưa gắn chặt với thị trường lao động và các ngành công nghệ cao. Chất lượng nguồn nhân lực, nhất là ngoại ngữ, tỷ lệ học sau đại học và đội ngũ nhà giáo còn nhiều điểm nghẽn; điều kiện cơ sở vật chất, tài chính giáo dục chưa đáp ứng yêu cầu, nhất là ở vùng khó khăn.

Thực tiễn đó cho thấy, bên cạnh những thành tựu quan trọng, yêu cầu đặt ra hiện nay là đẩy nhanh hoàn thiện thể chế, chính sách giáo dục, bảo đảm nguồn lực và tính đồng bộ trong triển khai, đúng với tinh thần của Nghị quyết 29 và những định hướng mới từ Nghị quyết 71. Đây là điều kiện then chốt để giáo dục thực sự trở thành động lực phát triển bền vững trong giai đoạn chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức và xã hội số.

Giáo dục: điểm khởi đầu cho sự cất cánh của quốc gia

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, để cất cánh và tăng tốc, phải bắt đầu từ giáo dục, chính sự thành công về giáo dục sẽ quyết định sự thành công ở các lĩnh vực khác. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà giáo, các nhà quản lý, các nhà khoa học đề nghị tiến hành một cuộc cải cách giáo dục cơ bản và toàn diện để đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, kỷ nguyên vươn mình.

Tạp chí giáo dục
Giáo dục quyết định tốc độ phát triển trong kỷ nguyên mới. Ảnh: Báo Chính phủ

Để tiếp tục đổi mới hoặc chuẩn bị cho một cuộc cải cách giáo dục nói chung, nền giáo dục phải đào tạo ra được những thế hệ thích ứng thành công trước những thay đổi nhanh chóng và khó lường của thế giới bị tác động bởi cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0, các vấn đề toàn cầu liên quan đến sự phát triển bền vững như dân số, môi trường, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh… Bên cạnh đó cũng cần đổi mới tư duy, nhận thức lại vị trí, sứ mạng, mục tiêu của hệ thống giáo dục cũng như của từng phân hệ, mà trước hết là giáo dục phổ thông và vai trò của Nhà nước để định hướng phát triển.

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, cần đề cập đến giáo dục phổ thông trước tiên vì nó có nhiều nội dung liên quan đến triết lý giáo dục. Giáo dục phổ thông là giai đoạn có ảnh hưởng quyết định đến tiến trình hình thành, phát triển nhân cách của mỗi cá nhân; là nền tảng của cả hệ thống giáo dục, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; là nền tảng cho học tập suốt đời, nhất là trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp 4.0, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Về mục tiêu giáo dục, tiếp tục xác định các yêu cầu về dân trí, nhân lực và nhân tài, song cần nhấn mạnh hơn nữa mục tiêu dạy làm người theo những giá trị nhân bản của dân tộc và nhân loại. Mục tiêu ưu tiên là để các thế hệ thanh thiếu niên nên người. Với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học, mục tiêu bồi dưỡng tư cách làm người cũng không thể bỏ rơi, bởi những phẩm chất cần thiết ở con người tử tế như lòng nhân ái, đức khoan dung, tính trung thực, ý thức công dân, lương tâm nghề nghiệp, thái độ hợp tác trong lao động chính là những yếu tố quan trọng cấu thành nên chất lượng nguồn lực con người – sức mạnh căn bản không chỉ của nền kinh tế mà của cả một quốc gia, dân tộc.

Với quan niệm về sứ mạng và mục tiêu của giáo dục như vậy thì hồn cốt của chương trình giáo dục phổ thông phải là khai sáng, phát triển hoàn toàn những tiềm năng sẵn có ở trẻ em mà nội dung chủ yếu xuyên suốt mọi bài học, mọi hoạt động của nhà trường phải là dạy và học làm người, dạy và học cách nghĩ, dạy và học cách học, lấy việc hình thành và phát triển các giá trị: nhân ái, khoan dung, trung thực, sáng tạo làm nền tảng.

Từ đó, vai trò của Nhà nước có trách nhiệm thực hiện mục tiêu “ai cũng được học hành”, trước hết là bảo đảm mọi công dân đều được hưởng nền giáo dục phổ thông cơ bản. Muốn vậy, trường công cho các cấp học mầm non, giáo dục tiểu học và trung học cơ sở phải đủ chỗ cho mọi trẻ em trong độ tuổi. Nhà nước bảo đảm sự công bằng trong việc cung ứng cơ hội tiếp cận giáo dục, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền, giữa các đối tượng. Chủ trương miễn học phí cho học sinh mầm non và tất cả học sinh phổ thông của Tổng Bí thư Tô Lâm đã thể hiện trước hết vai trò này của Đảng, Nhà nước hiện nay. Nhà nước phải bảo đảm để giáo dục phổ thông giữ được tính dân tộc và tiếp cận được trình độ hiện đại trong tiến trình phát triển của nhân loại.

Đổi mới giáo dục từ nền tảng triết lý đến chính sách trong kỷ nguyên số

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, để phát huy những thành tựu đã đạt được, khắc phục các hạn chế và tiếp tục đẩy mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, giáo dục Việt Nam cần được đặt trên một nền tảng tư duy triết lý vững chắc. Mục tiêu không chỉ là thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0, công nghệ số và trí tuệ nhân tạo, mà còn hướng tới đưa giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á vào năm 2030 và đạt trình độ tiên tiến của thế giới vào năm 2045.

Trước hết, cần xác lập lại cách tiếp cận giáo dục theo hướng nhân văn, lấy phát triển con người bền vững làm trung tâm. Giáo dục không chỉ làm gia tăng tri thức mà còn phải bồi đắp hệ giá trị, nâng cao chất lượng sống, trách nhiệm xã hội và ý thức gắn kết cộng đồng, môi trường. Mục tiêu cốt lõi của giáo dục là “học để làm người”, hướng tới sự tôn trọng, bao dung và chung sống trong một xã hội đa văn hóa, toàn cầu hóa.

Tạp chí giáo dục
Đổi mới giáo dục để thế hệ trẻ thích ứng Cách mạng công nghiệp 4.0. Ảnh: AI

Trong bối cảnh số hóa, giáo dục còn mang sứ mạng chuẩn bị cho công dân trở thành những “công dân kỹ thuật số”, có năng lực học tập suốt đời, thích ứng linh hoạt với những biến động nhanh chóng của tri thức và thị trường lao động. Điều này đòi hỏi phải thay đổi tư duy giáo dục truyền thống dựa trên thời gian học tập sang tiếp cận dựa trên năng lực và mức độ thành thạo của người học.

Cùng với đó, mô hình nhà trường truyền thống không còn là không gian học tập duy nhất. Sự phát triển của giáo dục số, học trực tuyến, học tập phi chính quy và các mô hình giáo dục 4.0 đang dần mở rộng không gian học tập, đặt ra yêu cầu tái định nghĩa vai trò của nhà trường, giáo viên và người học. Giáo dục ngày càng trở thành quá trình diễn ra liên tục trong suốt cuộc đời, mọi lúc, mọi nơi, người học giữ vai trò trung tâm và chịu trách nhiệm chính cho việc học của mình.

Từ những chuyển biến đó, yêu cầu đặt ra là cần kịp thời hoàn thiện các chính sách giáo dục để hiện thực hóa các triết lý đổi mới, bảo đảm quyền học tập suốt đời của công dân và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của con người và xã hội trong kỷ nguyên số, GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc chia sẻ.

Kỷ nguyên số không chỉ làm thay đổi cách con người tiếp cận tri thức mà còn tái định hình không gian sống, hành xử và giá trị xã hội, nơi ranh giới giữa thật – ảo, đúng – sai, trách nhiệm – vô trách nhiệm ngày càng mong manh. Trong bối cảnh đó, giáo dục không thể dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức hay đào tạo nghề nghiệp, mà phải hướng tới sứ mệnh sâu xa hơn: hình thành con người có đạo đức, trách nhiệm xã hội và căn tính văn hóa vững vàng trong thế giới số.

Theo GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Internet và trí tuệ nhân tạo có thể cung cấp vô hạn thông tin, nhưng chỉ giáo dục mới giúp người học biết lựa chọn, phán đoán và hành xử đúng đắn. Khi mạng xã hội trở thành một phần của đời sống thực, những hành vi “ảo” có thể gây ra những hệ quả xã hội rất thật, đòi hỏi giáo dục phải đi trước một bước trong việc trang bị năng lực tự chủ, khả năng miễn nhiễm trước thông tin sai lệch, bạo lực số và sự xói mòn giá trị đạo đức. Một hệ giá trị mới cần được kiến tạo, dựa trên việc tôn trọng sự thật, quyền riêng tư, tinh thần thấu cảm và trách nhiệm cá nhân, cả trong không gian mạng lẫn đời sống xã hội.

Đối với Việt Nam, thách thức này càng đặt ra yêu cầu phải gắn triết lý giáo dục với bản sắc văn hóa dân tộc trong bối cảnh toàn cầu hóa. Giáo dục cần giúp người học vừa làm chủ công nghệ hiện đại, vừa giữ gìn những giá trị nền tảng như nhân ái, trách nhiệm cộng đồng và tinh thần hiếu học. Triết lý giáo dục khai phóng, kết hợp với chiều sâu văn hóa truyền thống, có thể trở thành điểm tựa để nuôi dưỡng tư duy độc lập, sáng tạo mà không đánh mất “hồn cốt” dân tộc.

Trong một thế giới mà công nghệ có thể thay thế con người ở nhiều lĩnh vực, điều không thể thay thế chính là nhân cách, bản lĩnh và chiều sâu đạo đức. Vì vậy, triết lý giáo dục trong thời đại số không nằm ở việc chạy theo công nghệ mới nhất, mà ở cách giáo dục nuôi dưỡng những thế hệ biết sử dụng công nghệ để sống có trách nhiệm, có giá trị và góp phần kiến tạo một tương lai nhân văn hơn. Giáo dục, suy cho cùng, không chỉ là kiến tạo tri thức, mà là kiến tạo con người, GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc chia sẻ.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận