Thứ Ba , 22/09/2026 , 15:13:49 GMT+7

Hành trình học tập cùng trí tuệ nhân tạo

Thứ Ba, 22/09/2026, 13:52:53 GMT+7

Trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo AI, hành trình học tập đang chuyển từ tiếp nhận tri thức sang chủ động kết nối, tương tác và kiến tạo tri thức cùng AI. Nghiên cứu đề xuất mô hình “Hành trình học tập cùng AI”, đồng thời đặt “Bình dân học vụ số” trong yêu cầu mới: không chỉ xóa mù công nghệ mà còn xóa mù AI, giúp người học làm chủ công cụ và phát triển năng lực.


Hành trình học tập dưới góc nhìn của Peter Hollins

Năm 2023, nhà tâm lý học người Mỹ Peter Hollins xuất bản cuốn The Lifelong Learner (Người học tập suốt đời). Cuối năm 2023, tác phẩm được Nhà xuất bản Dân Trí phát hành bằng tiếng Việt. GS.TS Phạm Tất Dong là người viết lời giới thiệu cho phiên bản tiếng Việt và đánh giá đây là một học liệu có ý nghĩa đối với những người đang tham gia các lớp học, khóa học hoặc tự học trong phong trào “Học tập suốt đời” do Thủ tướng Chính phủ phát động.

Một trong những vấn đề hấp dẫn được Peter Hollins đặt ra: Để kiến tạo một điều mới mẻ, con người phải tìm ra một tri thức chưa từng có. Nếu dùng những tri thức đã có, con người sẽ loanh quanh với những sản phẩm và cách làm quen thuộc. Vì vậy, để có tri thức mới, con người phải tổ chức cho mình một hành trình học tập tri thức mới (The Journey of Seeking New Knowledge/The pursuit of new knowledge).

Thực hiện hành trình đó không dễ dàng bởi bản chất của sự học là “Học, học nữa, học đến cùng”, đòi hỏi người học phải vượt qua những giới hạn về tâm lý, thời gian, điều kiện học tập và nhiều áp lực khác.

Người học có thể lựa chọn vùng an toàn (Comfort Zone) nơi họ cảm thấy quen thuộc và ít rủi ro hoặc dấn bước vào vùng sợ hãi (Fear Zone) với những khó khăn, mỏi mệt, trở ngại, những áp lực… để tìm kiếm những tri thức mới.

Tạp chí giáo dục
Hình 1. Hành trình học tập dưới góc nhìn của Peter Hollins
Nếu người học vượt qua được vùng sợ hãi, họ sẽ đi vào vùng học tập. Việc học tập thường xuyên, suốt đời sẽ giúp họ đủ năng lực thích nghi với thế giới đang thay đổi liên tục. Kết quả là, họ sẽ bước vào giai đoạn phát triển, trưởng thành trong từng bước đi lên của xã hội.

Trên thực tế, hình (1) là mô hình hành trình tri thức mà Peter Hollins dựa vào để phát triển lý thuyết của mình. Trên thực tế, đó vốn là mô hình “4 vùng phát triển” (The Learning Zone Model), mà bản vẽ trong bài viết này là phiên bản được chuẩn hoá nhất hiện nay. Thuật ngữ “The Knowledge Journey” trong hình vẽ (1) là một hành trình tìm kiếm tri thức cần thiết của từng cá nhân.

Mô hình hành trình học tập và yêu cầu vượt qua “vùng an toàn”

Mô hình hành trình tri thức mà Peter Hollins sử dụng có nguồn gốc từ nhiều nghiên cứu về tâm lý học và phát triển năng lực.

Năm 1908, Định luật Yerkes-Dodson chỉ ra rằng, hiệu suất làm việc tăng lên khi mức độ căng thẳng/lo lắng cũng tăng lên, nhưng chỉ đến một ngưỡng nhất định. Quá ngưỡng đó thì sẽ sụp đổ. Đây là cơ sở khoa học cho việc “phải ra khỏi vùng thoải mái/an toàn”.

Năm 1930, Lev Vygotsky (Nga) đưa ra vùng phát triển gần (Zone of Proximal Development - ZPD), cho rằng, việc học hỏi tốt nhất xảy ra ở vùng nằm giữa cái đã biết và cái chưa biết, chưa thể làm được.

Năm 1991, trong tác phẩm “Danger in the Comfort Zone”, Judith Bardwick nói đến vùng an toàn (Comfort Zone) và đưa ra định nghĩa về vùng này.

Năm 2009, Alasdair White (Anh) mới vẽ ra 4 vòng tròn đồng tâm để mô tả hành trình học tập trong bài báo From Comfort Zone to Performance Management.

Peter Hollins đã dựa vào mô hình hành trình học tập qua hình các vòng tròn lệch tâm (như hình 1) để trình bày lý thuyết của mình. Đây là phiên bản được chế lại sau nhiều lần, mà có lẽ lần cuối là do Noel M. Tichy, giáo sư quản trị Đại học Michigan đưa ra, Peter Hollins dựa vào đó để phát triển thành mô hình học thuật.

Đóng góp của Hollins là biến một mô hình lý thuyết thành một hệ thống hành động với 3 điểm cụ thể:

Ông đặt tên cho cơ chế quay lại là Homeostasis tâm lý (Cân bằng nội sinh tâm lý): não bộ con người được lập trình để tiết kiệm năng lượng và tránh rủi ro. Nó sẽ luôn kéo bạn về vùng Comfort Zone. Fear Zone không phải là một lỗi, mà là cơ chế sinh tồn.

Peter Hollins đưa ra công thức để người học đi qua đoạn đường từ Fear Zone đến Learning Zone. Người ta sẽ không tự động viên “phải can đảm lên”, mà đưa ra chiến lược:

Trước hết, hạ thấp mức độ nghiêm trọng (Lower the stakes), thay vì đặt mục tiêu phải thành công, hãy coi quá trình học như một thử nghiệm.

Tiếp theo, chấp nhận chịu khó có chủ đích (Deliberate Discomfort), mỗi ngày ngày đối diện với một thử thách nhất định để não bộ thích nghi với cảm giác không thoải mái.

Cuối cùng, hãy hành động có mục tiêu (Objective over Emotion) thay vì cảm xúc, không để nỗi sợ hãi quyết định việc có tiếp tục học tập hay không.

Điều quan trọng được Peter Hollins định nghĩa lại Growth Zone: Người học trong hành trình tiếp cận tri thức mới không chỉ giỏi hơn, mà trở thành phiên bản hoàn toàn mới. Khi đã dấn bước vào vùng sợ hãi, nỗ lực từng bước trong hành trình các vùng học tập, từ đó, giới hạn của vùng an toàn (Comfort Zone) nới rộng dần. Mũi tên “hành trình tri thức” sẽ tiến theo một đường thẳng, không có sự quay lại.

Hành trình học tập cùng AI trong kỷ nguyên số

Chúng ta vừa nhìn lại mô hình “Hành trình học tập” trong xã hội truyền thống mà Peter Hollins đã dùng. Đó là mô hình các vùng mà hành trình học tập phải đi qua.

Mô hình (1) ứng với thế hệ người học bao gồm thế hệ X, Y là chủ yếu. Những thế hệ này được coi là dân nhập cư vào xã hội số (Digital Immigrant); họ sẽ học tập để trở thành những công dân số (Digital Citizens) nếu họ vượt qua được vùng sợ hãi.

Hiện nay, Generative AI (Trí tuệ nhân tạo tạo sinh) đã hiện diện trong xã hội. Việc học tập của con người là hành trình học cùng AI, và hành trình đó có cấu trúc khác với hành trình theo hình (1).

Với sự đồng hành học cùng AI, tác giả thiết kế hành trình AI-Enhanced Learning Journey (Hành trình học tập được AI tăng cường), tức là hành trình học tập cùng AI.
Tạp chí giáo dục
Hình 2. Hành trình học tập được AI tăng cường.
Đây là hành trình học tập cùng Trí tuệ nhân tạo mà đối tượng chính của hành trình là thế hệ Z (Gen Z) với tư cách Digital Native (người sinh ra trong kỷ nguyên số) và thế hệ Alpha (Gen A) với tư cách là AI Native (người sinh ra trong kỷ nguyên AI).

Lưu ý: Trong hành trình này, Gen Z và Gen Alpha vẫn có nỗi lo khi thực hiện hành trình học tập, tuy nhiên không bị áp lực lớn bởi ngay từ thơ ấu, kỹ năng số với Gen Z gần như là bẩm sinh, còn với Gen Alpha thì kỹ năng làm quen với AI có ngay từ khi mới vài tuổi biết dùng ngón tay chơi điện thoại di động. Lo lắng của hai thế hệ người học này chỉ là nhanh chóng rút ngắn khoảng cách tâm lý với AI.

Vùng quen thuộc của người học là nơi họ đã có kinh nghiệm làm việc với các ứng dụng AI, có tri thức bản địa và kinh nghiệm sống với AI... Đó là cái vốn để họ bước vào hành trình học với AI.

Khi đi vào vùng kết nối với AI, người học chỉ cần thực hiện 3 điều: Hiểu được AI sẽ giúp họ những gì, họ cần đặt câu hỏi như thế nào để AI giúp họ như ý và họ biết mình nên kiểm chứng ý kiến mà AI đưa ra như thế nào.

Trong vùng tương tác với AI, người học sẽ đối thoại với AI, thử nghiệm những điều đã học cùng AI và giải quyết vấn đề cùng AI. Thông qua mấy việc này, việc học của con người sẽ được AI cá nhân hóa và tri thức cá nhân mở rộng nhanh chóng.
Sau hành trình học tập, con người cùng AI tạo ra một năng lực mới mà trước hành trình học chưa có.

“Bình dân học vụ số” và yêu cầu xóa mù AI

Nếu Bình dân học vụ được Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động năm 1945 hướng tới mục tiêu xóa mù chữ quốc ngữ thì Bình dân học vụ số (2025) Chính phủ phát động là cuộc vận động xóa mù công nghệ số và nâng cao năng lực tham gia đời sống số của người dân.

Tuy nhiên, hiện nay sự xuất hiện của trí tuệ nhân tạo (AI) đang làm cho khái niệm “xóa mù số” cần được nhìn nhận ở một tầng sâu hơn.

Trong đời sống sản xuất, kinh doanh và dịch vụ, nhiều người không chỉ thiếu kỹ năng số (Digital Illiteracy), mà còn thiếu kỹ năng về sử dụng AI (AI Illiteracy). Do vậy, hành trình Bình dân học vụ số không chỉ chăm lo cho người dân nắm được công nghệ số (Digital Literacy) mà đồng thời phải giúp người dân có kiến thức và kỹ năng để hiểu, sử dụng, tương tác với các công cụ AI một cách an toàn, hiệu quả và có trách nhiệm (AI Literacy).

Trên thực tế, một cuộc vận động “Bình dân học AI” do Lê Công Thành - CEO công ty công nghệ InfoRe Technology khởi xướng và lan tỏa với mục tiêu đưa công nghệ AI tiếp cận số đông, xóa bỏ rào cản công nghệ cho đông đảo người dân, góp phần rút ngắn khoảng cách công nghệ.

Mô hình “Bình Dân học vụ số cùng AI”

Dựa trên mô hình hành trình học tập của Peter Hollins, tác giả nghiên cứu đề xuất mô hình Hành trình học tập Bình dân học vụ số cùng AI, gồm các vùng phát triển nối tiếp nhau.
Tạp chí giáo dục
Hình 3. Hành trình học tập Bình dân học vụ số cùng AI.

Vùng An toàn truyền thống: Người học quen với lối học có người dạy, quen làm việc với kinh nghiệm riêng, có vốn kiến thức nhất định.
Vùng sợ hãi: Người học ngại ngùng trong tiếp cận với công cụ số và AI.
Vùng học AI: Biết cài đặt AI, biết đặt câu lệnh, biết bảo vệ dữ liệu.
Vùng ứng dụng : AI trở thành trợ lý.
Vùng kiến tạo: Người học đã có kiến thức và kỹ năng học cùng AI, làm việc có sáng tạo.
Cuối cùng, người học cộng sinh với AI trong học tập (Human + AI Intelligence).Trong tương lai gần, hành trình học tập bổ túc văn hoá số cùng AI sẽ kết thúc một giai đoạn. Người học không còn là nguyên mẫu như trước khi bước vào hành trình, mà là một phiên bản mới về chính mình.

Hành trình học tập bình dân học vụ số cùng AI cho người học thấy rằng, AI đến với hành trình này không thay thế người thầy, không học thay người học, AI hiện diện như một tấm gương phản chiếu năng lực của chính người học.

Học cùng AI là phương thức Hỏi để AI trả lời. Câu hỏi sâu thì câu trả lời sâu. Trong quá trình gọt giũa câu hỏi cho thêm chiều sâu, chính tư duy ta được gọt giũa.

Tri thức không đơn thuần nằm trong chiếc máy, giá trị của tri thức chỉ thực sự được tạo ra khi người học có năng lực biến thông tin trong máy thành trí tuệ của mình và sáng tạo ra tri thức mới.

Cứ sau một hành trình, ta trở thành một phiên bản mới. AI là bệ phóng để người học bay cao hơn, nhưng bay càng cao con người vẫn là người cầm lái hành trình của chính mình.




PV/BTV

Trịnh Thị Thu

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận