Nghị quyết số 71-NQ/TW nhận định: “Trong bối cảnh thế giới có những thay đổi sâu sắc, toàn diện, đặc biệt công nghệ số và trí tuệ nhân tạo đang tái định hình nền giáo dục trên phạm vi toàn cầu, mỗi quốc gia đều phải xác định lại tầm nhìn và chiến lược mới cho hệ thống giáo dục trong tương lai”.

Từ nhận định trên cho thấy, việc xây dựng và phát triển nền giáo dục khi đi vào kỷ nguyên mới không thể phát triển theo logic nội tại của riêng ngành giáo dục. Những biến đổi về kinh tế, xã hội, lao động, văn hóa, địa chính trị và đặc biệt là công nghệ đang làm thay đổi môi trường tồn tại của giáo dục. Nhà trường hôm nay phải chuẩn bị cho người học năng lực sống và làm việc trong một thế giới mà nhiều đặc điểm của tương lai chưa thể dự báo đầy đủ.
Chúng ta cần phải thấy rõ vai trò quan trọng của một cặp yếu tố “Công nghệ số + Trí tuệ nhân tạo” trong phát triển giáo dục trên phạm vi toàn cầu, giáo dục Việt Nam muốn theo kịp dòng chảy của giáo dục thế giới, nhất thiết phải nhận thức được sự tác động đồng thời của “cặp bài trùng” này.
Điểm đáng chú ý, sự xuất hiện của AI tạo sinh đã đưa chuyển đổi số giáo dục sang một giai đoạn mới. Nếu các công nghệ số chủ yếu làm thay đổi phương tiện và phương thức giáo dục như học trực tuyến, học liệu số, quản trị bằng dữ liệu, thì AI còn tác động trực tiếp tới cách con người học, cách tri thức được tạo ra, cách tổ chức quá trình dạy - học và cách phát triển năng lực cá nhân.
Trong việc tái định hình nền giáo dục, AI không đơn thuần chỉ là công cụ hỗ trợ giáo viên hay học sinh; nó đang tạo ra không gian trí tuệ mới, trong đó con người có thể học tập liên tục, cá nhân hoá việc học và hợp tác với hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Chúng ta cần phải “xác định lại tầm nhìn và chiến lược mới”. Việc này mang ý nghĩa đột phá. Nếu chỉ ứng dụng AI vào mô hình giáo dục cũ thì hiệu quả và hiệu lực làm biến đổi giáo dục sẽ rất thấp. Vấn đề hoàn toàn không phải đưa công nghệ máy tính, Internet hay AI vào trường học, mà nằm ở các câu hỏi căn bản: Trong kỷ nguyên AI, mục tiêu cao nhất của giáo dục là gì? Con người cần những năng lực nào để học hỏi, hợp tác với AI? Vai trò của người thầy sẽ thay đổi ra sao? Người học sẽ trở thành chủ thể của quá trình học tập như thế nào? Hệ thống giáo dục chuyển từ mô hình truyền đạt tri thức sang phát triển năng lực sáng tạo, tư duy phản biện, đạo đức và học tập suốt đời ra sao? Bằng phương tiện gì? Đây chính là điểm xuất phát để nhìn nhận yêu cầu “đột phá phát triển” giáo dục và đào tạo.
Nghị quyết 71-NQ/TW mang hàm ý chuyển đổi giáo dục trong thời đại số sang giáo dục trong thời đại AI. Ở thời đại số hiện nay việc học tập trung vào trọng tâm khả năng tiếp cận thông tin và tri thức, còn ở thời đại AI, việc học phải đặt trọng tâm vào năng lực cộng tác trí tuệ giữa con người và công nghệ. Chúng ta sẽ chuyển từ “học với AI” sang “học cùng AI”.
Khái niệm “Đột phá”
Trước hết, ta cần làm rõ “Đột phá” là gì và thao tác hoá khái niệm này (Concept Operationalization/Operationalizing a Concept). Đột phá dịch sang tiếng Anh là Breakthrough, thường dùng “đột phá tư duy”, “đột phá chiến lược”, “đột phá phương pháp”....
Đột phá là thuật ngữ dùng để chỉ sự phá vỡ một rào cản, sự vượt qua một trở lực, một giới hạn nào đó, gia tăng đột ngột về kiến thức và năng lực hoạt động, thực hiện một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp, tạo ra sự phát triển quan trọng để giải quyết những vấn đề lớn, những thách thức lớn v.v...
Mỗi một tác động của sự đột phá thường thể hiện ở 3 đặc điểm:
Quy mô thay đổi: Kết quả của đột phá không là những cải tiến nhỏ, vụn vặt hoặc những đổi mới mang tính cục bộ mà là ở những điều mới mẻ có quy mô lớn lao.
Phá vỡ giới hạn: Đột phá mang lại sự xoá bỏ rào bất hợp lý, những quy định lỗi thời, những thói quen cũ, cách suy nghĩ đã trở nên thủ cựu...
Tác động mạnh: Đột phá mang lại những giá trị vượt trội, loại bỏ các tiêu chuẩn cũ, định hình những tiêu chuẩn mới.
Nghị quyết số 71-NQ/TW đặt ra vấn đề lớn: “Đột phá phát triển” giáo dục và đào tạo. Đột phá phát triển là một tư tưởng chiến lược, cần làm rõ nội hàm và ngoại diện của khái niệm này. Đột phá phát triển, tiếng Anh là Development Breakthrough/Breakthrough in Development. Thuật ngữ "Đột phá phát triển" được hiểu là sự thay đổi mang tính bước ngoặt, tạo ra sự chuyển biến vượt bậc về chất, làm thay đổi tốc độ, quy mô hoặc trình độ phát triển của một lĩnh vực hay một quốc gia. Đây không phải là những cải tiến nhỏ, mà là sự thay đổi có khả năng mở ra một giai đoạn phát triển mới.
Khái niệm "Đột phá phát triển" có 4 đặc trưng:
Tạo ra bước nhảy về chất: Không chỉ làm tốt hơn cái cũ, mà còn sáng tạo ra cách làm mới hoặc mô hình mới;
Tác động lan toả rộng: Một đột phá ở lĩnh vực này có thể thúc đẩy sự phát triển mạnh hơn ở nhiều lĩnh vực khác;
Giải quyết điểm nghẽn cốt lõi: Đột phá thường tập trung vào những "nút thắt" đang kìm hãm sự phát triển;
Tạo lợi thế phát triển dài hạn: Đột phá không chỉ mang lại những kết quả tốt đẹp trước mắt, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh trong tương lai.
Khi triển khai “Đột phá phát triển giáo dục” theo Nghị quyết số 71-NQ/TW, có thể xác định 4 khâu đột phá cơ bản: đột phá tư duy giáo dục; đột phá đội ngũ nhà giáo; đột phá hạ tầng và hệ sinh thái giáo dục AI; đột phá mục tiêu giáo dục.
Thứ nhất: Đột phá tư duy giáo dục. Là bước chuyển từ giáo dục truyền thụ tri thức sang phát triển năng lực (cơ bản nhất là năng lực học cùng AI, làm việc hợp tác với AI); Chuyển từ học một lần sang học tập suốt đời (Phải hiểu rằng Generative AI là AI liên tục học hỏi, tốc độ học của nó mọi giáo viên và học sinh đều không bắt kịp); Chuyển dần giáo dục trong thời đại số sang giáo dục trong thời đại AI (Generative AI hiện nay sẽ được Symbiotic AI thay thế, có thể trong thời gian không xa); Xây dựng triết lý giáo dục “Lấy con người làm trung tâm, AI là đối tác trí tuệ”.
Thứ hai: Đột phá đội ngũ nhà giáo (Nhân lực sư phạm). Đổi mới căn bản và triệt để chương trình, nội dung và phương pháp đào tạo của các trường Sư phạm; Mỗi giáo viên trở thành nhà thiết kế học tập, đồng thời là người hướng dẫn, sử dụng Trí tuệ nhân tạo; Phát triển năng lực số, năng lực làm việc hợp tác, cộng sinh với AI và năng lực nghiên cứu của giáo viên; Xây dựng năng lực thích ứng của giáo viên với giáo dục thông minh.
Thứ ba: Đột phá hạ tầng và hệ sinh thái giáo dục AI: Phát triển hạ tầng số đồng bộ; Xây dựng dữ liệu giáo dục (Educational Data) quốc gia; Ứng dụng AI trong quản trị, dạy học và đánh giá kết quả của giáo dục học đường; Hình thành hệ sinh thái giáo dục mở, kết nối Nhà trường - gia đình - doanh nghiệp - Viện nghiên cứu - các nền tảng AI.
Thứ tư: Đột phá mục tiêu giáo dục: Mục tiêu giáo dục trong kỷ nguyên số (và giai đoạn giao thời chuyển sang kỷ nguyên AI) không phải là đào tạo con người nhiều trí thức hơn AI, mà là học tập suốt đời cùng AI, có năng lực cộng sinh với AI và đồng sáng tạo với AI.
Những yêu cầu cơ bản trong Nghị quyết 71-NQ/TW
Thay đổi mục tiêu đào tạo khi chuyển từ kỷ nguyên thông tin sang kỷ nguyên số và kỷ nguyên AI.
Đất nước bước vào giai đoạn đầu của kỷ nguyên số - kỷ nguyên Trí tuệ nhân tạo tạo sinh (Generative AI) hỗ trợ công việc cho con người. Giai đoạn này cũng là điều kiện để AI tạo sinh từng bước tiến hóa để trở thành AI cộng sinh. Theo dự báo của nhiều công trình nghiên cứu, AI cộng sinh sẽ sớm có mặt trong đời sống xã hội. Điều này cho thấy quản lý giáo dục cần nhanh chóng xác định mục tiêu đào tạo theo yêu cầu của kỷ nguyên số, và dần hình thành mục tiêu đào tạo theo yêu cầu của kỷ nguyên AI.
Do vậy, cần hiểu trong kỷ nguyên số, với sự có mặt của AI tạo sinh và tiếp sau đó là AI cộng sinh nên giáo dục cần tạo ra những công dân có những năng lực cốt lõi nào? Sau đây là một so sánh theo mấy tiêu chí cơ bản:
Như vậy, với Generative AI, con người phải biết sử dụng trí tuệ của AI. Với Symbiotic AI, con người phải biết phối hợp trí tuệ của mình với trí tuệ AI để tạo ra năng lực mới.
Prompting sẽ không còn là năng lực trung tâm, nó sẽ dần trở thành một kỹ năng kỹ thuật cơ bản.
Sự thay đổi về chương trình đào tạo của giáo dục theo 3 cấp:
Học với Generative AI: Người - Hỏi AI - Nhận câu trả lời - Kiểm chứng - Sử dụng.
Học với Symbiotic AI: Người - AI - Cùng đặt vấn đề - Cùng suy luận - Bổ sung cho nhau - Cùng kiến tạo tri thức - Con người quyết định.
Mục tiêu cuối cùng của giai đoạn này từ đào tạo “Người biết dùng AI” sang "Người biết sống và làm việc với AI".
Hình thành hệ sinh thái giáo dục AI - một đột phá quan trọng kiến tạo mô hình công dân cộng sinh với AI
Nghị quyết số 71-NQ/TW nói tới một hệ sinh thái không thể thiếu vai trò của AI thông qua cách đặt yêu cầu một hệ sinh thái giáo dục mới với những yếu tố sau: Xây dựng nền giáo dục mở, liên thông, bảo đảm việc học tập suốt đời cho mọi người; Phát triển mô hình trong đó nhà trường, gia đình, xã hội, doanh nghiệp công nghệ và các nền tảng AI cùng tham gia tạo môi trường học tập; Hệ sinh thái giáo dục AI, theo quan niệm hiện đại, được thiết kế thành 5 tầng.

Xây dựng năng lực của học sinh và giáo viên trong xã hội chuyển đổi số
Khi mục tiêu giáo dục thay đổi, khung năng lực của người học và giáo viên cũng cần được cập nhật.
UNESCO đưa ra 15 năng lực đối với giáo viên, chia thành 5 lĩnh vực, mỗi lĩnh vực 3 năng lực.

Với học sinh, UNESCO đưa ra khung năng lực học số AI gồm 12 năng lực trong 4 lĩnh vực cụ thể:
Điểm chung của các khung năng lực này là đặt con người, trách nhiệm và đạo đức ở vị trí trung tâm. AI càng phát triển, yêu cầu về chủ thể con người, khả năng kiểm chứng, tư duy phản biện và trách nhiệm đối với quyết định càng trở nên quan trọng.
Vì vậy, giáo dục AI không thể chỉ là dạy cách sử dụng công cụ. Đó phải là quá trình hình thành năng lực để người học đặt vấn đề, đối thoại, kiểm chứng, phản biện, sáng tạo và chịu trách nhiệm khi làm việc với AI.
Nghị quyết số 71-NQ/TW cho rằng, người học phải có động lực học và có chế biến việc học thành nhu cầu cấp thiết của con người thì học tập mới có kết quả tốt.
4 khâu đột phá then chốt phát triển giáo dục
Đột phá động lực học: Giáo dục cần chuyển tư duy “học để thi” sang “Học để phát triển”; Học để làm việc tốt hơn, thích ứng với mọi thay đổi, đóng góp sáng tạo cộng đồng và tự phát triển tốt hơn.
Đột phá vào hệ sinh thái học tập suốt đời: Tạo điều kiện học tập cho mọi người, từ đó mở ra các cơ hội tự học và tự phát triển; Chuyển hệ thống giáo dục khép kín sang hệ thống giáo dục mở; Thư viện số, kho học liệu mở và các trợ lý của AI đều là những không gian mới cho việc học tập suốt đời (Đây là điều kiện học tốt nhất mà giai đoạn trước đây chưa có).
Đột phá vào cơ chế ghi nhận và khuyến khích: Chuyển đánh giá thi đua theo chuẩn “Ai học nhiều hơn?” sang “Ai học được gì, làm được gì? tạo ra những giá trị mới nào từ học tập; Xây dựng hồ sơ học tập từng cá nhân, ghi rõ các kỹ năng hình thành, các sản phẩm tạo ra, những sáng kiến và đóng góp cho cộng đồng, không cần ghi đã học xong lớp nào, khóa nào.
Đột phá vào phương thức tổ chức phong trào: Cách phát động thi đua “Tuần lễ học tập”, “Tháng học tập”, “Học tập suốt đời” nên xem lại, phát động xong, không theo dõi và cũng không có chuẩn đo đếm thành tích đã đạt; Nên thi đua xây dựng “Mạng lưới học tập thường xuyên” trong đó mỗi cá nhân theo đuổi một mục đích học tập, mỗi cộng đồng là một không gian học tập, mỗi doanh nghiệp là một đơn vị học tập (Learning Organization), mỗi địa phương là một xã hội học tập.

Đột phá thể chế để mở rộng nguồn lực cho giáo dục
Nghị quyết 71-NQ/TW nhấn mạnh việc hoạch định thể chế về nguồn lực, động lực và không gian giáo dục mới. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, lấy đầu tư công dắt dẫn, thu hút các nguồn lực xã hội cho hiện đại hóa toàn diện hệ thống giáo dục quốc dân. Để thực hiện quan điểm chỉ đạo trên, cần tiến hành 7 khâu đột phá sau:
Đột phá về thể chế đầu tư công: Chuyển tư duy “Bố trí ngân sách để duy trì hệ thống” sang “Đầu tư công để tạo năng lực phát triển”. Ưu tiên đầu tư công vào những nền tảng mà khu vực xã hội không thể đầu tư đủ như: Những hạ tầng thiết yếu, trường lớp, giáo dục cơ bản, đào tạo giáo viên, hạ tầng số, dữ liệu AI, phòng thí nghiệm, vùng khó khăn...).
Đột phá về cơ chế thu hút nguồn lực xã hội: Chuyển cuộc “vận động xã hội hoá” sang “thiết kế thể chế để xã hội muốn và có thể đầu tư vào giáo dục”. Doanh nghiệp, quỹ xã hội, tổ chức nghề nghiệp, cựu học sinh, trí thức phải có cơ chế cho những phần việc như đầu tư, đặt hàng, đồng đào tạo, hợp tác nghiên cứu, đổi mới sáng tạo, học bổng, xây dựng cơ sở vật chất....
Đột phá về cơ chế hợp tác công - tư trong giáo dục: Mở rộng hợp tác công - tư trong các lĩnh vực như hạ tầng số, nền tảng học tập, phòng thí nghiệm, đào tạo nghề, bồi dưỡng kỹ năng, chuyển giao công nghệ, AI và công nghệ giáo dục. Xây dựng nguyên tắc: Nhà nước đầu tư nền tảng, nhà trường tạo giá trị, người học thụ hưởng. Tăng quyền tự chủ trong các bên về tài chính, nhân sự, chương trình, hợp tác quốc tế, hợp tác doanh nghiệp...
Đột phá về tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình: Tăng quyền tự chủ cho các bên về tài chính, nhân sự, chương trình, hợp tác quốc tế... chú ý bảo đảm tự chủ đi đôi với minh bạch. Giữ vững nguyên tắc trao quyền gắn với kiểm soát chặt chẽ.
Đột phá về cơ chế phân bổ ngân sách: Không phân bổ tiền đầu tư theo số trường, số lớp, số giáo viên..., mà căn cứ vào chất lượng, kết quả, mức độ khó khăn, tác động xã hội. Ưu tiên cho nơi yếu thế, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo.
Đột phá về thể chế dữ liệu và giám sát xã hội: Cần có cơ chế công khai, minh bạch về đầu tư vào giáo dục như: ngân sách, sử dụng nguồn lực, chất lượng đào tạo, kết quả nghiên cứu, mức độ hoàn thành mục tiêu.
Đột phá về thể chế giáo dục số và AI: Xây dựng hành lang pháp lý và cơ chế đầu tư về hạ tầng số, dữ liệu giáo dục, nền tảng học tập trực tuyến, giáo dục AI, cá nhân hoá học tập, quản trị thông minh.
Trong bối cảnh Bộ Chính trị nhận định “công nghệ số và AI đang tái định hình hệ thống giáo dục toàn cầu”, đổi mới giáo dục ở Việt Nam cần được nhìn nhận như một quá trình đổi mới mang tính hệ thống, lấy công nghệ số và AI làm nền tảng và động lực để tạo đột phá. Đây không thể là sự điều chỉnh chắp vá, “yếu đâu sửa đó”, bởi những thay đổi đơn lẻ, thiếu tầm nhìn tổng thể có thể làm gia tăng sự mất cân đối và tạo thêm những bất cập trong toàn hệ thống giáo dục. Vì vậy, triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW cần được đặt trong một tư duy cải cách căn bản, đồng bộ và có tính cách mạng, từ hạ tầng, phương thức giáo dục, đội ngũ nhà giáo đến phát triển năng lực con người, văn hóa và thể chế trong kỷ nguyên AI.
Giáo dục toàn cầu đang chuyển dịch theo những xu thế lớn (Megatrend), trong đó số hóa và AI đang tạo ra những thay đổi sâu sắc về cách dạy, cách học, cách kiến tạo và truyền thụ tri thức. Chủ động tiếp cận, tham gia và hòa nhập vào xu thế này là yêu cầu tất yếu đối với giáo dục Việt Nam. Tuy nhiên, hiện đại hóa giáo dục không đồng nghĩa với sao chép mô hình bên ngoài. Bài toán đặt ra là phải kết hợp giữa bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc với hiện đại hóa và quốc tế hóa giáo dục, tạo dựng một hệ thống giáo dục vừa hội nhập sâu rộng, vừa giữ được bản sắc và khả năng tự chủ. Nếu tiếp cận xu thế giáo dục thế giới bằng tư duy giáo điều sẽ dẫn tới máy móc; nếu bằng tư duy thủ cựu sẽ khó thoát khỏi sức ì và nguy cơ tụt hậu.
Trong quá trình đó, học cùng AI và cộng tác với AI không phải để con người phụ thuộc vào AI, mà để mở rộng năng lực tư duy, sáng tạo và kiến tạo của con người. Giáo dục cần chuyển từ tư duy “AI hỗ trợ con người” sang tư duy “con người và AI cùng kiến tạo”, trong đó con người vẫn giữ vai trò chủ thể, mục tiêu, giá trị và trách nhiệm cuối cùng.
Suy cho cùng, vấn đề cốt lõi của giáo dục vẫn là đào tạo con người. Bước vào kỷ nguyên AI, mục tiêu của giáo dục không phải đào tạo những con người cố gắng “biết nhiều hơn AI”, mà là hình thành những con người biết đặt vấn đề, tư duy độc lập, đối thoại, hợp tác và cùng AI kiến tạo tri thức mới. Đó cũng là nền tảng để xây dựng Việt Nam trở thành xã hội học tập, nơi mỗi công dân có khả năng học tập, thích ứng và phát triển suốt đời. Trong xã hội ấy, “học tập suốt đời cùng AI” không chỉ là một phương thức học tập mới, mà có thể trở thành một năng lực nền tảng của công dân trong kỷ nguyên trí tuệ nhân tạo.