Tài nguyên giáo dục mở trở thành nền tảng của giáo dục đại học số
Thông tư số 61/2026/TT-BGDĐT được ban hành nhằm cụ thể hóa các quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2025 và đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số trong giáo dục đại học. Văn bản có hiệu lực từ ngày 1/9/2026, đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hoàn thiện hành lang pháp lý về khai thác và sử dụng tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam.
Theo Thông tư, tài nguyên giáo dục mở được xác định giữ vai trò nền tảng trong quá trình triển khai giáo dục đại học số, góp phần thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Đồng thời, đây cũng là công cụ quan trọng nhằm tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu và học liệu giữa các cơ sở đào tạo với các tổ chức, cá nhân có liên quan.
Thông tư lần đầu tiên quy định thống nhất các khái niệm về tài nguyên giáo dục mở, giấy phép mở, quyền truy cập mở, nền tảng giáo dục mở và Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia. Việc chuẩn hóa các khái niệm này tạo cơ sở pháp lý cho việc kết nối, khai thác và chia sẻ hiệu quả các nguồn học liệu hợp pháp trong nước và quốc tế phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học và học tập suốt đời.
Đáng chú ý, các học liệu, giáo trình, bài giảng, khóa học trực tuyến và các sản phẩm học thuật được tạo lập toàn bộ hoặc chủ yếu từ nguồn ngân sách nhà nước được ưu tiên công bố theo giấy phép mở, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc thuộc phạm vi hạn chế công bố. Quy định này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn học liệu chất lượng cho người học và cộng đồng học thuật, đồng thời nâng cao hiệu quả khai thác các sản phẩm được đầu tư từ ngân sách nhà nước.
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang làm thay đổi phương thức tổ chức giáo dục đại học trên toàn cầu, tài nguyên giáo dục mở không còn đơn thuần là một kho học liệu trực tuyến mà đang trở thành hạ tầng tri thức của giáo dục đại học số. Việc lần đầu tiên có quy định thống nhất về tài nguyên giáo dục mở cho thấy định hướng chuyển từ mô hình "sở hữu riêng lẻ" sang "kết nối và chia sẻ tri thức" giữa các cơ sở đào tạo. Khi các nguồn học liệu được đầu tư từ ngân sách nhà nước có cơ chế chia sẻ phù hợp, người học sẽ có thêm cơ hội tiếp cận tri thức chất lượng, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công và thúc đẩy xây dựng xã hội học tập trong kỷ nguyên số.
Hình thành hệ sinh thái học liệu dùng chung gắn với bảo đảm chất lượng và liêm chính học thuật
Bên cạnh việc mở rộng khả năng tiếp cận học liệu, Thông tư cũng đặt ra các yêu cầu chặt chẽ nhằm bảo đảm chất lượng của tài nguyên giáo dục mở khi đưa vào khai thác và sử dụng.
Theo đó, tài nguyên giáo dục mở phải được gắn giấy phép mở phù hợp, đáp ứng yêu cầu tích hợp và chia sẻ trên môi trường số. Các cơ sở đào tạo có trách nhiệm xây dựng cơ chế kiểm soát chất lượng, tổ chức thẩm định, cập nhật nội dung và tiếp nhận phản hồi của người sử dụng nhằm bảo đảm tính chính xác và giá trị học thuật của học liệu.
Thông tư đồng thời quy định rõ quyền và trách nhiệm của tổ chức, cá nhân trong quá trình khai thác và sử dụng tài nguyên giáo dục mở. Người sử dụng được quyền truy cập, khai thác, chỉnh sửa, kết hợp và chia sẻ tài nguyên theo điều kiện của giấy phép mở, song phải tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về quyền tác giả, sở hữu trí tuệ, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng, an ninh quốc gia và liêm chính học thuật.
Đối với các tài nguyên có sử dụng nội dung do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra, Thông tư yêu cầu bảo đảm tính minh bạch theo quy định của pháp luật hiện hành.
Một trong những mục tiêu quan trọng của Thông tư là hình thành mạng lưới kết nối, liên thông và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở trong toàn hệ thống giáo dục đại học. Các cơ sở đào tạo được sử dụng tài nguyên giáo dục mở làm học liệu chính thức, học liệu tham khảo hoặc học liệu bổ trợ trong chương trình đào tạo; đồng thời có thể khai thác phục vụ hoạt động nghiên cứu khoa học, công nhận kết quả học tập, chuyển đổi tín chỉ, cấp chứng chỉ và văn bằng theo quy định hiện hành.
Thông tư cũng yêu cầu các cơ sở đào tạo xây dựng nền tảng tài nguyên giáo dục mở của đơn vị, bảo đảm khả năng kết nối với Cổng truy cập tài nguyên giáo dục mở quốc gia; đồng thời ban hành cơ chế khuyến khích, ghi nhận các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng tài nguyên giáo dục mở và xem xét công nhận đây là một sản phẩm học thuật theo quy định của từng cơ sở đào tạo.
Giá trị của tài nguyên giáo dục mở không chỉ nằm ở tính "mở" mà còn phải đi cùng với chất lượng, trách nhiệm và sự minh bạch trong quá trình sử dụng. Việc quy định rõ trách nhiệm của các cơ sở đào tạo trong kiểm soát chất lượng học liệu và bảo đảm liêm chính học thuật cho thấy cách tiếp cận cân bằng giữa mở rộng chia sẻ tri thức với bảo vệ các chuẩn mực học thuật.
Xa hơn, khi các cơ sở giáo dục đại học cùng tham gia xây dựng và kết nối hệ sinh thái học liệu dùng chung, tài nguyên giáo dục mở có thể trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới phương thức dạy học, nghiên cứu và học tập suốt đời, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nền giáo dục đại học số hiện đại, mở và hội nhập của Việt Nam.