Chủ Nhật , 26/07/2026 , 10:42:34 GMT+7

Tự chủ đại học: Từ cải cách quản trị đến kiến tạo năng lực quốc gia

Model?.data?.author?.Name
PGS.TS Phan Thanh Bình

PGS.TS Phan Thanh Bình

Chủ Nhật, 26/07/2026, 08:14:10 GMT+7

Trong hơn ba thập niên đổi mới, giáo dục đại học Việt Nam đã có nhiều thay đổi quan trọng về tổ chức, cơ chế và chính sách. Tuy nhiên, nếu nhìn ở tầm phát triển quốc gia, điều thay đổi có ý nghĩa nhất không chỉ là mức độ tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, mà là sự phát triển trong nhận thức về tự chủ.

Mỗi giai đoạn phát triển của đất nước đều đặt ra một yêu cầu mới đối với giáo dục đại học và mỗi yêu cầu mới ấy lại dẫn đến một cách tiếp cận mới về tự chủ. Từ một công cụ cải cách quản lý, tự chủ từng bước trở thành phương thức đổi mới quản trị. Đến hôm nay, tự chủ được nhìn nhận như một cơ chế kiến tạo năng lực quốc gia: năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Điều thay đổi không chỉ là quyền tự chủ của từng trường, mà quan trọng hơn là mục đích mà quyền tự chủ phải hướng tới. Nếu trước đây tự chủ chủ yếu nhằm giúp các trường hoạt động hiệu quả hơn, thì ngày nay tự chủ phải góp phần trực tiếp nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực phát triển của đất nước.

Nhận thức mới về tự chủ đại học

Quá trình đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam trong hơn ba thập niên qua có thể được nhìn nhận như sự phát triển liên tục của tư duy về tự chủ.

Giai đoạn đầu, bắt đầu từ quá trình đổi mới giáo dục đại học từ những năm 1990 với dấu mốc là sự ra đời của các Đại học Quốc gia và được thể chế hóa trong Nghị quyết 14/2005/NQ-CP, tự chủ được nhìn nhận như công cụ đổi mới quản lý. Trọng tâm là mở rộng quyền chủ động của các cơ sở giáo dục đại học, từng bước chuyển từ cơ chế quản lý tập trung sang phát huy tính chủ động và trách nhiệm của nhà trường.

Giai đoạn tiếp theo, được định hình bởi Nghị quyết số 29-NQ/TW (2013) và Luật Giáo dục đại học sửa đổi năm 2018, tự chủ trở thành phương thức đổi mới quản trị. Quyền tự chủ được gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm định chất lượng và hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, trong thực tiễn, tự chủ nhiều khi bị thu hẹp thành tự chủ tài chính, trong khi những nhiệm vụ chiến lược như khoa học cơ bản, công nghệ nguồn hay đào tạo nhân lực cho khu vực công không thể hoàn toàn vận hành theo cơ chế thị trường.

Giai đoạn hiện nay, theo tinh thần Nghị quyết số 71-NQ/TW và Luật Giáo dục đại học năm 2025, tự chủ được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia. Quyền tự chủ được xác lập đầy đủ hơn, không còn phụ thuộc vào mức độ tự chủ tài chính; đồng thời Nhà nước chuyển mạnh từ quản lý trực tiếp sang kiến tạo thể chế, đầu tư và định hướng chiến lược. Chủ trương dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách cho giáo dục đại học cũng cần được hiểu là đầu tư cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Tạp chí giáo dục
Tự chủ đại học được đặt trong chiến lược phát triển quốc gia (Nguồn: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)

Nhìn lại quá trình phát triển nhận thức về tự chủ đại học, có thể thấy điều thay đổi không chỉ là phạm vi quyền tự chủ mà là mục đích của tự chủ. Tự chủ không còn là đích đến của cải cách giáo dục đại học, mà trở thành phương thức kiến tạo năng lực quốc gia.

Khi tự chủ đại học được nhìn nhận như một cơ chế kiến tạo năng lực quốc gia, câu hỏi đặt ra không chỉ là trao thêm quyền cho từng trường đại học, mà cần phải nhìn lại vị trí của đại học công lập trong chiến lược phát triển đất nước.

Đại học công lập: Hạ tầng tri thức chiến lược quốc gia

Nếu tự chủ đại học được nhìn nhận như một cơ chế kiến tạo năng lực quốc gia thì điều cần thay đổi tiếp theo không chỉ là cơ chế quản trị của từng trường, mà là cách nhìn về đại học công lập.

Trong nhiều năm, đại học công lập chủ yếu được định nghĩa bằng hình thức sở hữu và nguồn đầu tư của Nhà nước. Cách tiếp cận đó đúng về quản lý hành chính, nhưng không phản ánh đầy đủ vai trò của đại học trong giai đoạn phát triển mới. Điều cần nhìn lại trước hết không phải là cơ chế hoạt động, mà là chính khái niệm đại học công lập.

Đại học công lập không nên được định nghĩa trước hết bằng sở hữu công, mà phải bằng trách nhiệm công. Sở hữu công chỉ là phương thức tổ chức; trách nhiệm công mới là bản chất của đại học công lập.

Trách nhiệm đó thể hiện ở việc Nhà nước tổ chức và đầu tư để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện những nhiệm vụ mà thị trường không thể hoặc không có đủ động lực thực hiện. Đó là phát triển khoa học cơ bản, công nghệ nền tảng, nghiên cứu chiến lược, đào tạo nguồn nhân lực cho khu vực công, bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục đại học và gìn giữ những giá trị học thuật của quốc gia. Đây đều là những nhiệm vụ có ý nghĩa quyết định đối với năng lực phát triển lâu dài của đất nước nhưng khó có thể đánh giá bằng hiệu quả tài chính trong ngắn hạn. Tính chất công của một trường đại học thể hiện trước hết là giá trị công mà nhà trường tạo ra cho xã hội.

Từ góc độ đó, đại học công lập cần được nhìn nhận như một hạ tầng tri thức chiến lược của quốc gia. Đại học không chỉ đào tạo nguồn nhân lực mà còn sản sinh tri thức mới, phát triển công nghệ, hình thành đội ngũ chuyên gia, tư vấn chính sách và nuôi dưỡng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Những giá trị đó không chỉ phục vụ từng ngành hay từng địa phương mà quyết định năng lực cạnh tranh dài hạn của cả nền kinh tế.

Bởi vậy, đầu tư cho đại học công lập không phải là đầu tư cho một loại hình cơ sở giáo dục, mà là đầu tư cho hạ tầng tri thức và năng lực phát triển của quốc gia. Ý nghĩa của chủ trương dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục đại học chính là thể hiện tinh thần đó. Điều quan trọng không chỉ là tăng nguồn lực, mà là tập trung nguồn lực để hình thành các năng lực chiến lược của đất nước.

Khẳng định vai trò của đại học công lập không đồng nghĩa với việc thu hẹp vai trò của khu vực ngoài công lập. Ngược lại, một hệ thống giáo dục đại học hiện đại chỉ có thể phát triển khi cả hai khu vực cùng được tạo điều kiện phát huy thế mạnh của mình.

Đại học ngoài công lập có lợi thế về tính năng động, khả năng huy động nguồn lực xã hội, đa dạng hóa mô hình đào tạo và đáp ứng nhanh nhu cầu của thị trường lao động. Khu vực này là động lực quan trọng để mở rộng quy mô, thúc đẩy cạnh tranh và đổi mới của toàn hệ thống. Trong khi đó, đại học công lập tập trung thực hiện những nhiệm vụ công và duy trì các năng lực chiến lược mà quốc gia không thể thiếu. Hai khu vực không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau trong cùng một hệ thống giáo dục đại học.

Thực tiễn quốc tế cũng cho thấy những quốc gia có nền giáo dục đại học phát triển đều duy trì hệ thống đại học công mạnh và được đầu tư có trọng điểm. Ngay cả ở Hoa Kỳ, nơi khu vực đại học tư phát triển rất mạnh, thì các đại học công nghiên cứu vẫn giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo quốc gia.

Đại học Quốc gia và mô hình tự chủ hệ thống

Nếu đại học công lập là hạ tầng tri thức chiến lược của quốc gia thì trong hạ tầng đó phải có những đại học đủ năng lực dẫn dắt toàn hệ thống.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy năng lực cạnh tranh của một hệ thống giáo dục đại học không được quyết định bởi sự phát triển đồng đều của tất cả các cơ sở giáo dục đại học, mà trước hết bởi sự hiện diện của một số đại học dẫn dắt. Đây là những thiết chế có khả năng tạo lập chuẩn mực học thuật, dẫn đầu nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế. Chính những đại học này tạo ra động lực phát triển và lan tỏa chất lượng cho toàn hệ thống.

Ở Việt Nam, sự ra đời của các Đại học Quốc gia và chủ trương xây dựng các đại học trọng điểm cũng xuất phát từ tư duy đó. Đây không đơn thuần là những cơ sở giáo dục đại học đa lĩnh vực, có quy mô lớn hay được đầu tư nhiều hơn, mà là những thiết chế chiến lược của quốc gia. Vai trò của các đại học này không dừng ở đào tạo và nghiên cứu, tư vấn chính sách, mà còn phải dẫn dắt sự phát triển của toàn hệ thống giáo dục đại học, góp phần hình thành năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước.

Tạp chí giáo dục
Đại học Quốc gia góp phần hình thành năng lực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao của đất nước (Nguồn: Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)


Nếu vai trò khác biệt thì cơ chế phát triển cũng phải khác biệt. Trong nhiều năm qua, cải cách giáo dục đại học chủ yếu tập trung mở rộng quyền tự chủ cho từng cơ sở giáo dục đại học. Đó là bước đi cần thiết. Nhưng bước phát triển tiếp theo không chỉ là mở rộng quyền tự chủ của từng trường, mà là xây dựng một mô hình tự chủ hệ thống, trong đó mỗi nhóm cơ sở giáo dục đại học được trao cơ chế phát triển tương ứng với chức năng và trách nhiệm quốc gia mà mình đảm nhận.

Chính vì đảm nhận những nhiệm vụ chiến lược đó, các Đại học Quốc gia cần một cơ chế phát triển tương xứng. Tuy nhiên, cơ chế vận hành hiện nay vẫn còn những điểm nghẽn về thể chế. Tự chủ hệ thống chính là giải pháp để tháo gỡ những điểm nghẽn ấy và phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt của các Đại học Quốc gia.

Theo cách tiếp cận đó, các Đại học Quốc gia và các đại học trọng điểm cần một không gian tự chủ rộng hơn để chủ động xây dựng chiến lược phát triển dài hạn; quyết định mô hình tổ chức và quản trị; thu hút và đãi ngộ nhân tài; huy động và phân bổ nguồn lực; chủ động đào tạo, phát triển các trung tâm nghiên cứu xuất sắc và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây không phải là đặc quyền dành cho một số cơ sở giáo dục đại học, mà là điều kiện cần để thực hiện trách nhiệm chiến lược đối với sự phát triển của hệ thống và của đất nước.

Để thực hiện mô hình tự chủ hệ thống, quản lý nhà nước cũng cần chuyển sang một cách tiếp cận mới. Từ góc độ quản lý nhà nước, trao quyền tự chủ không có nghĩa là giảm nhẹ trách nhiệm của Nhà nước đối với giáo dục đại học. Ngược lại, tự chủ càng được mở rộng càng đòi hỏi Nhà nước thực hiện tốt hơn vai trò kiến tạo phát triển. Thay vì can thiệp sâu vào hoạt động học thuật và quản trị nội bộ của nhà trường, Nhà nước cần tập trung vào hoạch định chiến lược, hoàn thiện thể chế, đầu tư trọng điểm và xây dựng cơ chế đánh giá, giải trình.

Điều đó đòi hỏi một sự chuyển đổi trong tư duy quản lý. Thống nhất quản lý nhà nước không đồng nghĩa với đồng nhất cơ chế phát triển; ngược lại, cần chấp nhận sự khác biệt về thể chế và mức độ tự chủ phù hợp với sứ mệnh của từng nhóm cơ sở giáo dục đại học. Quản lý hiện đại không phải là quản lý giống nhau, mà là quản lý theo mục tiêu, theo sứ mệnh và theo kết quả. Đó chính là sự chuyển đổi từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo.

Thống nhất quản lý nhà nước không đồng nghĩa với đồng nhất cơ chế phát triển; ngược lại, cần chấp nhận sự khác biệt về thể chế và mức độ tự chủ phù hợp với sứ mệnh của từng nhóm cơ sở giáo dục đại học. Quản lý hiện đại không phải là quản lý giống nhau, mà là quản lý theo mục tiêu, theo sứ mệnh và theo kết quả.
PGS.TS Phan Thanh Bình

Đó cũng là cơ sở để hình thành một khế ước phát triển mới giữa Nhà nước và các đại học dẫn dắt. Theo khế ước đó, Nhà nước cam kết tạo lập môi trường thể chế thuận lợi, đầu tư tập trung và ổn định, đồng thời trao không gian tự chủ đủ rộng để các Đại học Quốc gia và các đại học trọng điểm thực hiện sứ mệnh quốc gia. Đổi lại, các đại học cam kết bằng những kết quả cụ thể về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân tài và đóng góp cho sự phát triển của toàn hệ thống giáo dục đại học cũng như của đất nước.

Quan hệ giữa Nhà nước và đại học vì thế không còn chủ yếu là quan hệ quản lý hành chính, mà là quan hệ đồng kiến tạo và cùng chịu trách nhiệm đối với năng lực phát triển quốc gia.

Đây cũng chính là bước phát triển tiếp theo của tự chủ đại học ở Việt Nam. Điều cần đổi mới không chỉ là cơ chế tự chủ của từng trường đại học, mà là mô hình tự chủ của cả hệ thống giáo dục đại học. Chỉ khi chuyển từ tư duy "quản lý các trường đại học" sang tư duy "kiến tạo một hệ thống giáo dục đại học", trong đó quyền tự chủ, nguồn lực và trách nhiệm được thiết kế phù hợp với sứ mệnh của từng nhóm cơ sở giáo dục đại học, tự chủ mới thực sự trở thành động lực kiến tạo năng lực quốc gia.

Tự chủ đại học ở Việt Nam đã vượt ra ngoài phạm vi của một cải cách quản trị. Đó là sự phát triển của một quan điểm mới về giáo dục đại học trong chiến lược phát triển quốc gia.

Quan điểm đó dẫn tới ba chuyển đổi có tính nền tảng: nhận thức mới về tự chủ như một cơ chế kiến tạo năng lực quốc gia; tái định vị đại học công lập như một hạ tầng tri thức chiến lược của đất nước và xây dựng mô hình tự chủ hệ thống với vai trò dẫn dắt của các Đại học Quốc gia và các đại học trọng điểm.

Có thể nói, bước phát triển tiếp theo của tự chủ đại học không chỉ là mở rộng quyền của từng cơ sở giáo dục đại học, mà là kiến tạo một hệ thống giáo dục đại học trong đó mỗi nhóm cơ sở được trao quyển tự chủ tương ứng với sứ mệnh quốc gia mà mình đảm nhiệm.

Muốn bước vào nhóm thu nhập cao, Việt Nam không thể chỉ xây dựng những trường đại học tự chủ, mà phải xây dựng được một hệ thống giáo dục đại học có khả năng kiến tạo tương lai.

PV/BTV

Nguyễn Ngọc Hà Giang

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận