Tự chủ học thuật là cốt lõi của tự chủ đại học
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, giáo dục đại học đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ để thích ứng với những biến động nhanh chóng của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn, Internet vạn vật và chuyển đổi số không chỉ tạo ra nhiều ngành nghề mới mà còn làm thay đổi yêu cầu về năng lực của nguồn nhân lực trong tương lai. Điều đó đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học phải chủ động hơn trong xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức nghiên cứu khoa học và đổi mới phương thức quản trị.
Trong bối cảnh đó, tự chủ đại học đã trở thành xu thế phát triển tất yếu của giáo dục đại học trên thế giới. Đây không đơn thuần là việc mở rộng quyền quyết định cho các trường mà là tạo lập môi trường để các cơ sở giáo dục đại học thực hiện đầy đủ chức năng vốn có của mình: đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng.
Ở Việt Nam, chủ trương đổi mới giáo dục đại học theo hướng tăng cường quyền tự chủ đã được xác định trong nhiều nghị quyết của Đảng, được thể chế hóa trong Luật Giáo dục đại học sửa đổi và tiếp tục được khẳng định trong các chiến lược phát triển giáo dục. Đặc biệt, Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã đặt ra yêu cầu xây dựng các trường đại học trở thành trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, nghiên cứu khoa học và đổi mới sáng tạo, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đây vừa là cơ hội, vừa là yêu cầu để các cơ sở giáo dục đại học phát huy mạnh mẽ hơn quyền tự chủ của mình.
Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng, tự chủ đại học không phải là mục tiêu cuối cùng mà là phương thức để nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Trong các nội dung của tự chủ đại học, tự chủ học thuật giữ vai trò cốt lõi bởi đây là lĩnh vực quyết định trực tiếp chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học. Quyền được chủ động xây dựng chương trình đào tạo, lựa chọn phương pháp giảng dạy, tổ chức nghiên cứu, mở ngành đào tạo mới hay hợp tác học thuật chính là nền tảng để mỗi trường đại học khẳng định bản sắc và uy tín của mình.
Đối với một hệ thống giáo dục đại học hay một cơ sở giáo dục đại học thì chương trình đào tạo là thành tố vô cùng quan trọng. Chương trình đào tạo không chỉ quy định toàn bộ hoạt động đào tạo trong một cơ sở giáo dục đại học, mà còn phản ánh trình độ phát triển của khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, xã hội… của quốc gia nói chung, của khoa học giáo dục và quản lí giáo dục nói riêng. Chương trình đào tạo còn là thương hiệu của một cơ sở giáo dục đại học, là văn bản giải trình xã hội về nghĩa vụ của một cơ sở giáo dục đại học với cộng đồng.
Ngoài các yếu tố có thể “nhìn thấy được” (visible curriculum), chương trình đào tạo còn bao gồm “chương trình ẩn” (hidden curriculum), tức là cơ sở triết học , xã hội học, văn hóa… thẩm thấu vào tất cả các thành tố của chương trình, tác động một cách âm thầm nhưng bền bỉ vào tất cả giảng viên, sinh viên, nhân viên trong suốt quá trình làm việc, học tập trong trường (thử so sánh 2 sinh viên cùng học một ngành nhưng ở các nước khác nhau dễ dàng nhận ra sự khác biệt trong giao tiếp, phong cách làm việc, cách tiếp cận và giải quyết vấn đề… - những tác động của chương trình ẩn).
Trong chương trình đào tạo thì mục tiêu, chuẩn đầu ra là yếu tố quan trọng, quyết định chất lượng của cả chương trình đào tạo. Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học. Thông tư quy định rõ khối lượng học tập tối thiểu đối với từng trình độ. Theo đó, chương trình đào tạo trình độ đại học và chương trình đào tạo bậc 6 có khối lượng tối thiểu 120 tín chỉ; chương trình đào tạo chuyên sâu đặc thù từ 150 tín chỉ trở lên; chương trình đào tạo trình độ thạc sĩ từ 45 tín chỉ trở lên; chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ là 90 tín chỉ. Theo thông tư, đối với trình độ đại học, chuẩn đầu ra phải có yêu cầu về năng lực số, nội dung về trí tuệ nhân tạo (AI), năng lực ngoại ngữ, khả năng thích ứng và học tập suốt đời.
Để thực hiện được chức năng đào tạo nguồn nhân lực đủ sức đáp ứng yêu cầu của xã hội đương đại, chương trình đào tạo phải mang dấu ấn của thời đại, là sản phẩm của thời đại. Việc xây dựng chương trình đào tạo cần bắt đầu từ việc trả lời câu hỏi: xã hội cần người tốt nghiệp có năng lực gì? Chỉ khi xác định được yêu cầu của thị trường lao động và của nghề nghiệp trong tương lai, nhà trường mới có thể thiết kế được chuẩn đầu ra phù hợp. Chuẩn đầu ra không chỉ mô tả những kiến thức người học cần đạt được sau khi tốt nghiệp mà còn phải xác định được các năng lực nghề nghiệp, kỹ năng, phẩm chất và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc. Đây cũng là cơ sở để tổ chức toàn bộ quá trình dạy học, từ lựa chọn học phần, phương pháp giảng dạy đến kiểm tra, đánh giá kết quả học tập.
Việc xây dựng chương trình đào tạo cần bắt đầu từ việc trả lời câu hỏi: xã hội cần người tốt nghiệp có năng lực gì? Chỉ khi xác định được yêu cầu của thị trường lao động và của nghề nghiệp trong tương lai, nhà trường mới có thể thiết kế được chuẩn đầu ra phù hợp. Chuẩn đầu ra không chỉ mô tả những kiến thức người học cần đạt được sau khi tốt nghiệp mà còn phải xác định được các năng lực nghề nghiệp, kỹ năng, phẩm chất và khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trường làm việc.
Trao quyền phải đi cùng năng lực quản trị và bảo đảm chất lượng
Tự chủ đại học không đồng nghĩa với việc các trường đại học được toàn quyền quyết định mọi vấn đề. Ngược lại, khi quyền tự chủ được mở rộng thì trách nhiệm giải trình cũng phải được nâng lên tương ứng. Nhà trường phải chịu trách nhiệm trước người học và trước xã hội, Nhà nước về chất lượng đào tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực cũng như nhũng giá trị mà mình tạo ra cho cộng đồng. Nhà trường cần xác định rõ tầm nhìn, sứ mạng, mục tiêu phát triển, đồng thời xây dựng các cơ chế để mọi hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng đều hướng tới những mục tiêu đã xác định.
Trong hệ thống đó, đội ngũ giảng viên giữ vai trò trung tâm. Kĩ năng phát triển chương trình môn học là kĩ năng đặc thù của nghề giáo. Giảng viên đại học cần có khả năng phát triển chương trình môn học mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động luôn thay đổi và đề xuất thay hoặc bổ sung vào chương trình đào tạo. Để làm việc này giảng viên phải nghiên cứu chương trình đào tạo khóa học, mục tiêu, Chuẩn đầu ra của chương trình, nghiên cứu yêu cầu mới của thị trường lao động để bổ sung, cập nhật các môn học đang có trong chương trình đào tạo. Cao hơn thiết kế môn học mới để thay thế hoặc bổ sung vào chương trình đào tạo. Ngoài ra giảng viên phải thiết kế được kế hoạch dạy học môn học một cách cập nhật nhất, phù hợp nhất với sinh viên của từng năm học, lớp học cụ thể, không thể thiết kế một lần và dùng cho mãi mãi.
Kĩ năng phát triển chương trình môn học là kĩ năng đặc thù của nghề giáo. Giảng viên đại học cần có khả năng phát triển chương trình môn học mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động luôn thay đổi và đề xuất thay hoặc bổ sung vào chương trình đào tạo.
- GS.TS Nguyễn Đức Chính
Bên cạnh đội ngũ giảng viên, học liệu, cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ cũng là những điều kiện không thể thiếu để thực hiện quyền tự chủ học thuật. Một chương trình đào tạo chỉ có thể vận hành hiệu quả khi người học được tiếp cận đầy đủ giáo trình, thư viện, phòng thí nghiệm, phòng thực hành, cơ sở dữ liệu số và các nền tảng công nghệ phục vụ học tập, nghiên cứu. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, đầu tư cho hạ tầng số và học liệu số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các cơ sở giáo dục đại học.
Hoàn thiện thể chế để tự chủ trở thành động lực đổi mới
Qua hơn một thập kỷ triển khai chủ trương tự chủ đại học, có thể khẳng định đây là hướng đi đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển của giáo dục đại học hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy, tự chủ không phải là đích đến mà là một quá trình đổi mới liên tục. Trao quyền cho các cơ sở giáo dục đại học mới chỉ là điều kiện cần; điều kiện đủ là các trường phải có năng lực để thực hiện hiệu quả quyền tự chủ và không ngừng nâng cao trách nhiệm giải trình đối với xã hội.
Trong bối cảnh thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, công nghệ bán dẫn và chuyển đổi số, giáo dục đại học không chỉ có nhiệm vụ đào tạo nguồn nhân lực mà còn phải trở thành trung tâm nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và chuyển giao công nghệ. Điều đó đòi hỏi các trường đại học phải có khả năng thích ứng nhanh với sự thay đổi của khoa học, công nghệ và thị trường lao động; đồng thời chủ động kiến tạo những lĩnh vực đào tạo mới thay vì chỉ đáp ứng nhu cầu trước mắt.
Định hướng này cũng đã được Đảng và Nhà nước xác định rõ trong Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Nghị quyết khẳng định phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt để phát triển đất nước trong giai đoạn mới, trong đó các cơ sở giáo dục đại học giữ vai trò trung tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao, phát triển tri thức và hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 tiếp tục đặt mục tiêu xây dựng hệ thống giáo dục đại học hiện đại, tự chủ, hội nhập quốc tế, vận hành theo mô hình quản trị tiên tiến và lấy chất lượng làm thước đo cho sự phát triển.
Để hiện thực hóa những mục tiêu đó, bên cạnh nỗ lực tự đổi mới của các trường đại học, hệ thống quản lý nhà nước cũng cần tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng chuyển mạnh từ quản lý bằng mệnh lệnh hành chính sang quản lý bằng tiêu chuẩn, chất lượng và trách nhiệm giải trình. Nhà nước tập trung xây dựng hành lang pháp lý ổn định, minh bạch; hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng; tạo cơ chế khuyến khích nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và hợp tác quốc tế; đồng thời có chính sách đầu tư trọng điểm đối với những cơ sở giáo dục đại học có tiềm năng trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu ngang tầm khu vực.
Về phía các trường đại học, tự chủ cần được nhìn nhận trước hết là trách nhiệm tự hoàn thiện mình. Điều đó không chỉ dừng lại ở việc xây dựng các chương trình đào tạo hiện đại mà còn bao gồm việc phát triển đội ngũ giảng viên, đổi mới mô hình quản trị, đầu tư cơ sở vật chất, học liệu và hạ tầng số, xây dựng hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong cũng như hình thành văn hóa đổi mới sáng tạo trong toàn trường. Chỉ khi hội tụ đầy đủ những điều kiện đó, quyền tự chủ mới có thể chuyển hóa thành chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu và uy tín học thuật của mỗi cơ sở giáo dục đại học.
Có thể nói, trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học là một quyết định "thuận thiên", tạo môi trường để các trường thực hiện đầy đủ chức năng vốn có của mình là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, sáng tạo tri thức mới và phục vụ sự phát triển của đất nước. Trong bối cảnh nền kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, quyền tự chủ học thuật càng trở thành điều kiện tiên quyết để các trường đại học chủ động đổi mới chương trình đào tạo, phát triển các ngành học mới và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Vì vậy, tự chủ không nên được hiểu đơn thuần là việc "được trao thêm quyền", mà cần được nhìn nhận là khả năng tự chịu trách nhiệm trước xã hội bằng chính chất lượng đào tạo, kết quả nghiên cứu khoa học và những đóng góp của nhà trường đối với sự phát triển đất nước. Khi quyền tự chủ được đặt trên nền tảng của năng lực quản trị, văn hóa chất lượng và trách nhiệm giải trình, các trường đại học sẽ có điều kiện phát huy tối đa tiềm năng của mình, góp phần xây dựng một hệ thống giáo dục đại học hiện đại, sáng tạo và hội nhập quốc tế.