Bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Trong bối cảnh hiện nay, việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục có ý nghĩa quan trọng đối với tiến trình đổi mới căn bản và toàn diện GD-ĐT. Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị (2025) về đột phá phát triển GD-ĐT nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với phân bổ nguồn lực, tăng cường tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục. Cùng với đó, mô hình chính quyền địa phương hai cấp đang tạo ra những thay đổi đáng kể trong cách thức tổ chức và quản lý giáo dục. Khi cấp quản lý trung gian không còn, nhiều nhiệm vụ quản lý trước đây thuộc cấp huyện được chuyển giao trực tiếp về cấp xã. Điều này giúp địa phương chủ động hơn trong điều hành giáo dục, song cũng đặt ra không ít thách thức trong việc tổ chức và triển khai các hoạt động chuyên môn ở cơ sở.
Trong khi đó, Sở GD-ĐT vẫn giữ vai trò chủ đạo trong chỉ đạo chuyên môn đối với toàn bộ hệ thống giáo dục của tỉnh. Khoảng cách địa lý giữa Sở và nhiều cơ sở giáo dục, đặc biệt ở các địa bàn miền núi, khiến việc triển khai các hoạt động chuyên môn thường xuyên gặp không ít khó khăn. Điều này đặt ra nhu cầu về một cơ chế hỗ trợ mang tính kết nối, giúp chuyển tải chỉ đạo chuyên môn đến các nhà trường nhưng không làm thay đổi thẩm quyền quản lý hiện hành. Từ góc độ lý luận quản lý giáo dục, việc hình thành các mạng lưới hỗ trợ chuyên môn giữa các cơ sở giáo dục có cơ sở từ nhiều hướng tiếp cận. Trước hết, các nghiên cứu về quản lý giáo dục linh hoạt cho rằng hoạt động quản trị cần thích ứng với những thay đổi của bối cảnh xã hội và công nghệ, đồng thời tăng cường tính tự chủ và sử dụng hiệu quả nguồn lực giáo dục (Jingxian, 2021; Elbanna, 2020). Theo Charoenkiatkan và cộng sự (2021), cách tiếp cận này gắn với việc đa dạng hóa phương thức tổ chức dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ và điều chỉnh cơ chế quản lý để đáp ứng tốt hơn nhu cầu học tập của người học.
Bên cạnh đó, lý luận về hợp tác và chia sẻ nguồn lực trong giáo dục nhấn mạnh vai trò của sự phối hợp giữa các cơ sở giáo dục và đội ngũ giáo viên trong việc trao đổi kinh nghiệm, chia sẻ tri thức và hỗ trợ chuyên môn (Littlejohn, 2010; Littlejohn & Margaryan, 2018; Armstrong, 2015; Bliss, 2022). Đồng thời, các nghiên cứu về bảo đảm chất lượng giáo dục cũng chỉ ra rằng việc tăng cường các hoạt động sinh hoạt chuyên môn chung giữa các nhà trường có thể góp phần thu hẹp khoảng cách chất lượng giữa các vùng miền (Ehlers, 2017; Weis, 2021). Những gợi mở lý luận cho thấy việc tổ chức các hình thức liên kết chuyên môn giữa các nhà trường là một hướng tiếp cận phù hợp trong bối cảnh đổi mới quản lý giáo dục hiện nay. Từ thực tiễn đó, Sở GD-ĐT Nghệ An đã đề xuất mô hình “Cụm chuyên môn” nhằm tăng cường kết nối giữa các cơ sở giáo dục, hỗ trợ hoạt động chuyên môn và lan tỏa các kinh nghiệm dạy học trong toàn tỉnh.
Cụm chuyên môn không phải là một cấp quản lý trung gian mà là không gian kết nối chuyên môn giữa các nhà trường
"Cụm chuyên môn" – cấu trúc kết nối chuyên môn liên trường
"Cụm chuyên môn" là hình thức tổ chức liên kết giữa các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn nhằm tăng cường trao đổi chuyên môn, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy và hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình thực hiện nhiệm vụ giáo dục. Mô hình này không phải là một cấp quản lý trung gian mà là không gian kết nối chuyên môn giữa các nhà trường. Thành phần của cụm chuyên môn gồm cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán từ các cơ sở giáo dục trong khu vực. Thông qua các hoạt động như hội thảo, sinh hoạt chuyên môn, nghiên cứu bài học và chia sẻ kinh nghiệm dạy học, các nhà trường có điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá và triển khai chuyển đổi số trong giáo dục. Đồng thời, cụm chuyên môn đóng vai trò cầu nối thông tin giữa Sở GD-ĐT và các cơ sở giáo dục. Thông qua các cụm trưởng và đội ngũ giáo viên cốt cán, những chủ trương và hướng dẫn chuyên môn của ngành được triển khai nhanh chóng đến các nhà trường, đồng thời các khó khăn phát sinh trong quá trình dạy học cũng được phản ánh kịp thời. Bên cạnh đó, mô hình còn tạo môi trường để phát huy vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán trong việc hỗ trợ chuyên môn cho đồng nghiệp, góp phần nâng cao năng lực nghề nghiệp và chất lượng dạy học trong toàn hệ thống.
“Cụm chuyên môn” đóng vai trò cầu nối thông tin giữa Sở Giáo dục và Đào tạo với các cơ sở giáo dục.
Cơ chế vận hành của mô hình “Cụm chuyên môn” tại Nghệ An

Tổ chức cụm chuyên môn theo đặc điểm địa lý và quy mô
Trên cơ sở điều kiện địa lý và đặc điểm phát triển giáo dục của từng khu vực, Nghệ An đã hình thành năm cụm chuyên môn. Việc phân chia này vừa bảo đảm sự thuận lợi trong di chuyển, vừa phản ánh sự tương đồng về điều kiện kinh tế – xã hội giữa các địa bàn. Các cụm được xác định gồm: cụm núi cao đường 7 (Con Cuông, Tương Dương, Kỳ Sơn), cụm trung du đường 7 (Đô Lương, Anh Sơn, Tân Kỳ, Thanh Chương), cụm đường 48 (Thái Hòa, Nghĩa Đàn, Quỳ Hợp, Quỳ Châu, Quế Phong), cụm Diễn – Yên – Quỳnh (Diễn Châu, Yên Thành, Quỳnh Lưu) và cụm trung tâm (Hưng Nguyên, Nam Đàn, Nghi Lộc và thành phố Vinh). Việc phân cụm mang tính tương đối, song đã tính đến yếu tố địa lý, điều kiện kinh tế – xã hội cũng như quy mô và chất lượng giáo dục của từng khu vực.
Ban điều hành của mỗi cụm do các trưởng phòng chuyên môn thuộc Sở GD-ĐT đảm nhiệm vai trò cụm trưởng. Thành viên của cụm gồm lãnh đạo, chuyên viên của Sở, cán bộ phụ trách giáo dục ở cấp xã, cùng đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán tại các cơ sở giáo dục. Cách tổ chức này bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa cơ quan quản lý, chính quyền địa phương và các nhà trường.
Hoạt động kết nối, hỗ trợ và chia sẻ chuyên môn
Trong thực tiễn triển khai, Cụm chuyên môn đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các cơ sở giáo dục và tạo môi trường trao đổi học thuật giữa giáo viên và cán bộ quản lý. Thông qua các hoạt động chuyên đề, nghiên cứu bài học và hội giảng, giáo viên có cơ hội thảo luận những vấn đề chuyên môn, cùng tìm kiếm giải pháp nâng cao chất lượng dạy học. Các cụm cũng hỗ trợ các nhà trường trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, thiết kế bài dạy theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Những nội dung đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá theo các văn bản hướng dẫn của Bộ GD-ĐT như Công văn 5512/BGDĐT-GDTrH hay Công văn 2345/BGDĐT-GDTrH được triển khai đồng bộ thông qua các hoạt động sinh hoạt cụm. Bên cạnh đó, các chuyên gia trong cụm – bao gồm lãnh đạo, chuyên viên của Sở và đội ngũ giáo viên cốt cán – trực tiếp tổ chức các chuyên đề bồi dưỡng, tiết dạy minh họa và chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn. Đây là nguồn lực chuyên môn quan trọng giúp các nhà trường tiếp cận những phương pháp giảng dạy mới và nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên.
Cơ chế tài chính bảo đảm tính bền vững
Hoạt động của Cụm chuyên môn được vận hành theo nguyên tắc minh bạch, linh hoạt và có sự tham gia của nhiều nguồn lực. Kinh phí hoạt động có thể đến từ ngân sách nhà nước hỗ trợ, nguồn chi thường xuyên của các nhà trường thành viên, cũng như sự đóng góp hợp pháp từ các tổ chức, cá nhân liên quan đến giáo dục. Nguồn kinh phí này chủ yếu được sử dụng cho các hoạt động chuyên môn như tổ chức hội thảo, mời báo cáo viên, hỗ trợ giáo viên tham gia sinh hoạt chuyên môn hoặc xây dựng tài liệu học tập. Cụm trưởng chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng kinh phí theo quy chế đã thống nhất, đồng thời thực hiện công khai dự toán và quyết toán để bảo đảm tính minh bạch.
Liên thông dữ liệu trong quản lý chuyên môn
Một yếu tố quan trọng trong vận hành mô hình là cơ chế liên thông dữ liệu giữa các cơ sở giáo dục và cơ quan quản lý. Thông qua các nền tảng số dùng chung, dữ liệu chuyên môn của các nhà trường được chuẩn hóa và kết nối trên hệ thống thông tin của Sở GD-ĐT. Trong cơ chế này, Sở đóng vai trò quản trị trục dữ liệu trung tâm, còn các cụm chuyên môn vận hành các nhánh dữ liệu chuyên sâu. Mọi báo cáo chuyên môn của nhà trường được số hóa và cập nhật trực tiếp lên hệ thống chung, cho phép chính quyền địa phương và cơ quan quản lý theo dõi tình hình giáo dục mà không cần qua nhiều cấp trung gian.
Chuyển đổi số và các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình
Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra trong nhiều hoạt động quản lý và dạy học, cách thức tổ chức sinh hoạt chuyên môn giữa các nhà trường cũng đang có những thay đổi đáng chú ý. Nếu trước đây các hoạt động của cụm chuyên môn chủ yếu được tổ chức trực tiếp theo từng địa bàn, thì việc ứng dụng công nghệ số hiện nay cho phép mở rộng hình thức trao đổi chuyên môn, tăng cường khả năng kết nối và chia sẻ nguồn lực giữa các cơ sở giáo dục. Trên cơ sở đó, một số giải pháp gắn với công nghệ và dữ liệu có thể góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của mô hình cụm chuyên môn.
Xây dựng hệ sinh thái số dùng chung
Hệ sinh thái số được hiểu là mạng lưới các nền tảng công nghệ, dữ liệu và người dùng được kết nối trong một hệ thống thống nhất. Theo Fasnacht (2024), hệ sinh thái số giúp các tổ chức tối ưu hóa quy trình vận hành và tạo ra giá trị bền vững thông qua sự liên kết giữa các thành phần công nghệ. Đối với Cụm chuyên môn, việc xây dựng hệ sinh thái số dùng chung cho phép kết nối các nguồn tài nguyên số, thư viện bài giảng, video tiết dạy minh họa và ngân hàng đề thi trên cùng một nền tảng. Các công cụ quản lý trực tuyến như Microsoft Teams, Trello hay các hệ thống quản lý học tập có thể hỗ trợ cụm trưởng theo dõi tiến độ triển khai các hoạt động chuyên môn theo thời gian thực. Nhờ đó, việc chia sẻ tài nguyên và phối hợp hoạt động giữa các trường trở nên thuận lợi hơn, đồng thời tạo nền tảng cho các sáng kiến đổi mới giáo dục dựa trên dữ liệu.
Sinh hoạt chuyên môn trực tuyến
Sinh hoạt chuyên môn trực tuyến là giải pháp quan trọng trong bối cảnh khoảng cách địa lý lớn giữa Sở GD-ĐT với các cơ sở giáo dục. Ngay từ năm 2014, Bộ GD-ĐT đã ban hành Công văn 5555/BGDĐT-GDTrH hướng dẫn tổ chức sinh hoạt chuyên môn qua mạng thông qua hệ thống “Trường học kết nối”. Trong mô hình “Cụm chuyên môn”, các hoạt động dự giờ, nghiên cứu bài học và thảo luận chuyên đề có thể được tổ chức trực tuyến thông qua các nền tảng như Zoom, Google Meet hoặc Microsoft Teams. Các tiết dạy minh họa có thể được ghi hình và phân tích lại nhiều lần, giúp giáo viên học hỏi sâu hơn về phương pháp giảng dạy. Hình thức này không chỉ tiết kiệm chi phí di chuyển mà còn cho phép mời các chuyên gia từ Bộ GD-ĐT hoặc các địa phương khác tham gia trao đổi chuyên môn với toàn bộ giáo viên trong cụm.
Quản trị đội ngũ và chia sẻ nguồn lực bằng dữ liệu
Việc sử dụng dữ liệu trong quản trị đội ngũ giáo viên giúp các Cụm chuyên môn vận hành hiệu quả hơn. Một trong những hướng tiếp cận là xây dựng bản đồ nhân sự số, trong đó lưu trữ thông tin về chuyên môn và năng lực của từng giáo viên trong cụm. Khi một trường thiếu giáo viên ở các môn đặc thù như Tiếng Anh, Tin học hay Nghệ thuật, hệ thống dữ liệu có thể hỗ trợ đề xuất phương án điều động hoặc tổ chức dạy liên trường. Bên cạnh đó, các hệ thống phản hồi trực tuyến cho phép giáo viên đánh giá chất lượng các hoạt động sinh hoạt chuyên môn, giúp ban điều hành cụm điều chỉnh nội dung hỗ trợ sát với nhu cầu thực tế.
Việc triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã tạo ra những thay đổi đáng kể trong quản lý giáo dục, đặc biệt khi vai trò chỉ đạo chuyên môn được tập trung tại Sở GD-ĐT trong khi các cơ sở giáo dục được trao quyền tự chủ nhiều hơn. Trong bối cảnh đó, mô hình “Cụm chuyên môn” trở thành một giải pháp tổ chức phù hợp nhằm kết nối các nhà trường, hỗ trợ chuyên môn và lan tỏa các sáng kiến giáo dục trong phạm vi toàn tỉnh. Thông qua cơ chế tổ chức hợp lý, phương thức hoạt động linh hoạt và sự hỗ trợ của các nền tảng số, Cụm chuyên môn có thể đóng vai trò như một “cánh tay nối dài” của Sở GD-ĐT, bảo đảm sự chỉ đạo chuyên môn đến từng cơ sở giáo dục; đồng thời, góp phần xây dựng môi trường hợp tác học thuật giữa các nhà trường, phát huy vai trò của đội ngũ giáo viên cốt cán và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong quản trị giáo dục.
Tài liệu tham khảo:
Armstrong, M. (2015). Armstrong’s handbook of management and leadership for HR: Developing effective people skills for better leadership and management (4th ed.). Kogan Page.
Bliss, T. J. (2022). Open educational resources and collaborative knowledge sharing in education. Educational Technology Research and Development, 70(2), 543–560.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo.
Bộ GD-ĐT (2025), Công văn số 1581/BGDĐT-GDPT ngày 08/4/2025 về đảm bảo duy trì, nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của các cơ sở giáo dục công lập tại các đơn vị hành chính khi thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.
Charoenkiatkan, K., Wijakkanalan, W., & Nuangchalerm, P. (2021). Flexible learning management in the digital era: Educational management and innovation for sustainable learning. International Journal of Instruction, 14(4), 817–834.
Charoenkiatkan. C, Wijakkanalan. S, & Nuangchalerm. P (2021). Exploring Possibility of Flexible Learning Management for Teacher Preparation Program. Solid State Technology, 64(2), 2270-2276.
Chính phủ (2025). Nghị định số 142/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 quy định về phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Ehlers, U.-D. (2017). Quality in open, distance and online education: Concepts, approaches and future directions. Springer.
Elbanna, S. (2020). The impact of strategic planning on organizational performance in public organizations. Public Organization Review, 20(2), 243–260.
Jingxian, Z. (2021). Agile educational management in the digital era: Challenges and strategies for school governance. Educational Management Administration & Leadership, 49(6), 1023–1038.
Littlejohn, A. (2010). Reusing open resources: Learning in open networks for work, life and education. Routledge.
Littlejohn, A., & Margaryan, A. (2018). Technology-enhanced professional learning: Processes, practices and tools. Research in Learning Technology, 26, 2033.
Weis, M. (2021). Educational quality assurance and improvement in school systems. Journal of Educational Change, 22(3), 421–438. https://doi.org/10.1007/s10833-020-09385-6