Thứ Sáu , 27/03/2026 , 16:14:29 GMT+7

Nhiều chính sách giáo dục mới có hiệu lực từ quý I năm 2026

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Năm, 05/03/2026, 11:23:07 GMT+7

Trong quý I năm 2026, hàng loạt chính sách quan trọng trong lĩnh vực giáo dục chính thức có hiệu lực, tác động trực tiếp tới tuyển sinh đại học, chế độ làm việc của đội ngũ nhà giáo. Các chính sách, quy định mới không chỉ chuẩn hóa tiêu chí tuyển sinh, mở rộng đối tượng xét tuyển mà còn xây dựng khung chế độ làm việc riêng cho giáo viên giáo dục thường xuyên và giáo dục nghề nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và bảo đảm quyền lợi nhà giáo trong bối cảnh đổi mới giáo dục toàn diện.

Chuẩn hóa quy chế tuyển sinh đại học và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục

Một trong những chính sách đáng chú ý là Thông tư số 06/2026/TT-BGDĐT ban hành Quy chế tuyển sinh các ngành đào tạo trình độ đại học và ngành Giáo dục Mầm non trình độ cao đẳng, có hiệu lực từ ngày 15/2/2026. Quy chế mới đưa ra nhiều quy định nhằm chuẩn hóa nguồn tuyển và bảo đảm chất lượng đầu vào:

Thứ nhất, nguồn tuyển là thí sinh có tổng điểm ba môn thi tốt nghiệp THPT tương ứng tổ hợp xét tuyển (hoặc điểm thi của môn Toán và Ngữ văn và một môn khác) đạt tối thiểu 15 theo thang điểm 30 (không áp dụng với thí sinh đặc cách hoặc được miễn thi tốt nghiệp).

Thứ hai, thí sinh đăng ký tối đa 15 nguyện vọng vào các chương trình đào tạo, các trường khác nhau và sắp xếp các nguyện vọng theo thứ tự ưu tiên từ cao xuống thấp (nguyện vọng 1 là thứ tự ưu tiên cao nhất). Các chương trình đào tạo giáo viên chỉ xét tuyển các nguyện vọng có thứ tự từ 1 đến 5.

Thứ ba, phương thức xét tuyển dựa trên kết quả học tập cấp THPT (học bạ), tổ hợp xét tuyển sử dụng điểm trung bình chung kết quả học tập 6 học kỳ (lớp 10, 11, 12) cấp THPT của tối thiểu 3 môn học; trong đó bắt buộc phải có môn Toán hoặc Ngữ văn đóng góp tối thiểu 1/3 trọng số tính điểm xét trong tổ hợp xét tuyển.

Thứ tư, điểm cộng (bao gồm điểm thưởng, điểm xét thưởng, điểm khuyến khích) tối đa là 3 điểm theo thang điểm 30 (tương ứng 10% của thang điểm xét tuyển), trong đó: Điểm thưởng đối với thí sinh được tuyển thẳng nhưng không dùng để xét tuyển thẳng từ 0 - 3; Điểm xét thưởng đối với thí sinh có thành tích hoặc có năng khiếu đặc biệt từ 0 - 1,5; Điểm khuyến khích đối với thí sinh có chứng chỉ ngoại ngữ hoặc có chứng chỉ quốc tế (nếu có) từ 0 - 1,5. Chứng chỉ ngoại ngữ chỉ được dùng cho quy đổi điểm môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển hoặc sử dụng cho điểm khuyến khích.

Thứ năm, bổ sung đối tượng xét tuyển trung học nghề, người nước ngoài đăng ký xét tuyển vào các chương trình đào tạo trình độ đại học.

Xây dựng chế độ làm việc riêng cho giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) ban hành Thông tư số 04/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên, có hiệu lực từ 10/2/2026. Thông tư mới là văn bản đầu tiên xây dựng quy định riêng đối với giáo viên giáo dục thường xuyên, phù hợp với đặc thù của lĩnh vực giáo dục thường xuyên, nơi giáo viên thường đảm nhận nhiều nhiệm vụ đa dạng như quản lý lớp học với nhiều độ tuổi khác nhau, tham gia tuyển sinh liên tục, tư vấn chương trình đào tạo và phối hợp với các cơ sở đào tạo, doanh nghiệp.

Tạp chí giáo dục
Thông tư mới quy định riêng chế độ làm việc, tạo cơ sở pháp lý phù hợp với đặc thù của giáo viên giáo dục thường xuyên. Ảnh: Báo Nghệ An.

Theo Thông tư, giáo viên tại các cơ sở giáo dục thường xuyên không bị giới hạn chỉ kiêm nhiệm tối đa hai nhiệm vụ như giáo viên phổ thông. Tuy nhiên, để bảo đảm chất lượng giảng dạy và quyền lợi nhà giáo, tổng số tiết được giảm và quy đổi đối với các nhiệm vụ kiêm nhiệm trong một năm học không vượt quá 50% định mức tiết dạy.

Người đứng đầu cơ sở giáo dục thường xuyên được tăng quyền chủ động trong phân công và quy đổi nhiệm vụ phù hợp với thực tế, nhằm bảo đảm phân công công việc công bằng và tạo điều kiện để giáo viên tập trung vào nhiệm vụ giảng dạy.

Thông tư cũng không quy định cứng tổng số tuần làm việc trong năm học, cho phép các cơ sở linh hoạt bố trí thời gian. Thời gian nghỉ hè của giáo viên được quy định từ 4 đến 8 tuần, do cơ sở giáo dục quyết định. Trong thời gian này, giáo viên có thể tham gia bồi dưỡng chuyên môn, tuyển sinh hoặc thực hiện các nhiệm vụ cần thiết khác.

Đối với giám đốc, phó giám đốc, Thông tư không quy định thời gian nghỉ hè cố định; việc bố trí thời gian nghỉ do cơ sở giáo dục thường xuyên quy định và thực hiện linh hoạt. Quy định tương tự được áp dụng đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ trưởng phòng, phó trưởng phòng và tương đương.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định định mức giảng dạy trung bình là 17 tiết/tuần đối với giáo viên giảng dạy chương trình giáo dục thường xuyên. Giáo viên chủ nhiệm các lớp học khác được giảm từ 1 đến 4 tiết/tuần, riêng giáo viên chủ nhiệm lớp chương trình giáo dục thường xuyên được giảm 4 tiết/tuần. Quy định cũng cho phép Quy đổi 1 tiết dạy trực tiếp hoặc trực tuyến bằng 1 tiết định mức hoặc không quá 2 tiết định mức đối với các hoạt động chuyên môn cụ thể.

Định mức tiết dạy trong một năm học của giám đốc là 8% và của phó giám đốc là 10% định mức tiết dạy trong một năm học của giáo viên giáo dục thường xuyên tương ứng với chương trình giảng dạy.

Thông tư cũng quy định cụ thể việc giảm định mức tiết dạy và quy đổi các hoạt động chuyên môn sang tiết giảng, giúp các cơ sở dễ triển khai và bảo đảm quyền lợi cho giáo viên. Đối với những nhiệm vụ chưa được quy định cụ thể, giám đốc cơ sở có thể quyết định mức quy đổi sau khi thống nhất với tập thể giáo viên và báo cáo cơ quan quản lý. Cách làm này tạo sự linh hoạt nhưng vẫn bảo đảm minh bạch và phù hợp thực tiễn.

Hoàn thiện khung chế độ làm việc cho nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Bộ GD&ĐT ban hành Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực thi hành từ ngày 12/2/2026, quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, góp phần chuẩn hóa hoạt động giảng dạy và nâng cao chất lượng đào tạo.

Tạp chí giáo dục
Bảo đảm quyền lợi và chuẩn hóa hoạt động giảng dạy của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: Báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo quy định, một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho lớp tối đa 35 người học, giảng dạy thực hành hoặc tích hợp (lý thuyết và thực hành) cho lớp tối đa 18 người học; giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành cho 1 lớp tối đa 10 người học.

Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó: Một giờ giảng lý thuyết là 45 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy tích hợp là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn; một giờ dạy thực hành là 60 phút được tính bằng 1 giờ chuẩn.

Thời gian làm việc của nhà giáo được quy định cụ thể theo từng trình độ đào tạo. Nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và trung cấp làm việc 44 tuần mỗi năm, trong đó bao gồm thời gian giảng dạy, bồi dưỡng chuyên môn, nghiên cứu khoa học, cập nhật công nghệ và các hoạt động chuyên môn khác. Nhà giáo dạy trình độ sơ cấp làm việc 46 tuần mỗi năm.

Thời gian làm việc của nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp là 46 tuần, bao gồm cả thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy bảo đảm định mức giờ chuẩn theo quy định.

Bên cạnh đó, định mức giờ chuẩn được quy định rõ theo từng trình độ đào tạo. Nhà giáo dạy trình độ cao đẳng có định mức từ 350 đến 450 giờ chuẩn mỗi năm; trình độ trung cấp từ 400 đến 510 giờ chuẩn; trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác từ 450 đến 580 giờ chuẩn.

Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy các môn học chung trong một năm học là 450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và 510 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ trung cấp.

Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ (giữ chức danh giảng viên, giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp) như sau: Hiệu trưởng, giám đốc: 8% định mức giờ chuẩn; Phó hiệu trưởng, phó giám đốc: 10% định mức giờ chuẩn; Trưởng phòng và tương đương: 14% định mức giờ chuẩn; Phó trưởng phòng và tương đương: 18% định mức giờ chuẩn; Nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ: 20% định mức giờ chuẩn.

Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.

Trong năm học, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy có tổng số giờ chuẩn vượt định mức giờ chuẩn quy định thì số giờ chuẩn vượt định mức được xác định là số giờ dạy thêm. Tổng số giờ dạy thêm của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không vượt quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật. Việc thanh toán tiền lương dạy thêm giờ được thực hiện theo quy định hiện hành.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận