Thứ Năm , 26/03/2026 , 10:11:22 GMT+7

Chuẩn hóa chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Sáu, 27/02/2026, 18:23:18 GMT+7

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa ban hành Thông tư số 05/2026/TT-BGDĐT quy định chế độ làm việc đối với nhà giáo giáo dục nghề nghiệp, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về cơ chế quản lý, tổ chức và sử dụng đội ngũ giảng viên, giáo viên trong lĩnh vực đào tạo nghề.

Hoàn thiện khung pháp lý về chế độ làm việc của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp

Theo Thông tư quy định, một giờ chuẩn được tính đối với việc giảng dạy lý thuyết cho 01 lớp tối đa 35 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc kết hợp lý thuyết và thực hành (tích hợp) cho 01 lớp tối đa 18 học viên, học sinh, sinh viên; giảng dạy thực hành hoặc tích hợp các ngành, nghề học nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm theo danh mục do Bộ trưởng Bộ GDĐT ban hành cho 01 lớp tối đa 10 học viên, học sinh, sinh viên.

Tạp chí giáo dục
Quy định mới đảm bảo định mức giảng dạy và phát triển năng lực chuyên môn của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Ảnh: Báo điện tử Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian giảng dạy trong kế hoạch đào tạo được tính bằng giờ chuẩn, trong đó: Một giờ giảng lý thuyết là 45 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn; một giờ dạy tích hợp là 60 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn; một giờ dạy thực hành là 60 phút được tính bằng 01 giờ chuẩn.

Nhiệm vụ của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp thực hiện theo quy định của Bộ GDĐT về chuẩn nghề nghiệp của giảng viên giảng dạy trình độ cao đẳng, giáo viên giảng dạy trình độ trung cấp, giáo viên giảng dạy trình độ sơ cấp.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định, thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng là 44 tuần, bao gồm: 32 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 12 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.

Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ trung cấp là 44 tuần, bao gồm: 36 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 08 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.

Thời gian làm việc của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp là 46 tuần, bao gồm: 42 tuần thực hiện nhiệm vụ giảng dạy; 04 tuần tham gia học tập, bồi dưỡng; thực hiện hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; cập nhật nâng cao kỹ năng thực hành, tiếp cận công nghệ mới; dự giờ, trao đổi kinh nghiệm và các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ khác.

Thời gian làm việc của nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp là 46 tuần, bao gồm cả thời gian thực hiện nhiệm vụ giảng dạy bảo đảm định mức giờ chuẩn theo quy định.

Thông tư này quy định chế độ làm việc đối với giảng viên giảng dạy trình độ cao đẳng, giáo viên giảng dạy trình độ trung cấp, giáo viên giảng dạy trình độ sơ cấp (nhà giáo giáo dục nghề nghiệp), bao gồm: nhiệm vụ, thời gian làm việc, thời gian nghỉ hằng năm; giờ chuẩn giảng dạy (giờ chuẩn) và định mức giờ chuẩn; chế độ dạy thêm giờ, chế độ giảm định mức giờ chuẩn và quy đổi các hoạt động chuyên môn khác ra giờ chuẩn.


Đảm bảo quyền lợi nhà giáo thông qua định mức giờ chuẩn, chế độ dạy thêm giờ

Tạp chí giáo dục
Quy định mới góp phần minh bạch hóa khối lượng giảng dạy của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp. Nguồn: Cổng thông tin điện tử Chính phủ.

Theo Thông tư, định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng: từ 350 đến 450 giờ chuẩn. Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ trung cấp: từ 400 đến 510 giờ chuẩn.

Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác: từ 450 đến 580 giờ chuẩn.

Định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy các môn học chung trong một năm học là 450 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ cao đẳng và 510 giờ chuẩn đối với nhà giáo dạy trình độ trung cấp.

Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo giữ chức vụ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục, nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ (giữ chức danh giảng viên, giáo viên trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp) như sau:

Hiệu trưởng, giám đốc: 8% định mức giờ chuẩn; Phó hiệu trưởng, phó giám đốc: 10% định mức giờ chuẩn; Trưởng phòng và tương đương: 14% định mức giờ chuẩn; Phó trưởng phòng và tương đương: 18% định mức giờ chuẩn; Nhà giáo làm việc tại các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ: 20% định mức giờ chuẩn.

Định mức giờ chuẩn đối với nhà giáo được giao nhiệm vụ giảng dạy chương trình bồi dưỡng năng lực sư phạm cho nhà giáo trong cơ sở hoạt động giáo dục nghề nghiệp áp dụng định mức giờ chuẩn của nhà giáo dạy trình độ cao đẳng.

Trong năm học, nhà giáo giáo dục nghề nghiệp tham gia giảng dạy có tổng số giờ chuẩn vượt định mức giờ chuẩn quy định thì số giờ chuẩn vượt định mức được xác định là số giờ dạy thêm.

Tổng số giờ dạy thêm của nhà giáo giáo dục nghề nghiệp không vượt quá số giờ làm thêm theo quy định của pháp luật. Việc thanh toán tiền lương dạy thêm giờ được thực hiện theo quy định hiện hành.

Chuẩn hóa chế độ làm việc tạo nền tảng pháp lý nâng cao chất lượng đào tạo nghề

Trong bối cảnh chuyển đổi số, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế sâu rộng, giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò quan trọng trong việc đào tạo lực lượng lao động có kỹ năng, tay nghề cao. Để thực hiện tốt nhiệm vụ này, đội ngũ nhà giáo giáo dục nghề nghiệp cần được bảo đảm điều kiện làm việc phù hợp, định mức giảng dạy hợp lý và cơ chế ghi nhận đầy đủ các hoạt động chuyên môn.

Thông tư 05/2026/TT-BGDĐT đã góp phần giải quyết một trong những vấn đề cốt lõi là chuẩn hóa chế độ làm việc, tạo sự minh bạch và thống nhất trong quản lý đội ngũ nhà giáo. Việc quy định rõ giờ chuẩn, định mức giảng dạy và thời gian dành cho nghiên cứu, bồi dưỡng chuyên môn thể hiện quan điểm coi trọng vai trò phát triển năng lực nghề nghiệp liên tục của nhà giáo.

Đặc biệt, việc dành thời gian cho nhà giáo cập nhật công nghệ mới và nâng cao kỹ năng thực hành là yếu tố then chốt trong giáo dục nghề nghiệp, bởi nội dung đào tạo nghề luôn gắn chặt với sự phát triển của công nghệ và yêu cầu thực tiễn của doanh nghiệp. Khi nhà giáo được tạo điều kiện nâng cao năng lực chuyên môn, chất lượng đào tạo sẽ được cải thiện, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực quốc gia.

Tuy nhiên, để Thông tư thực sự phát huy hiệu quả, các cơ sở giáo dục nghề nghiệp cần triển khai một cách nghiêm túc, đồng bộ, đồng thời gắn việc thực hiện chế độ làm việc với các chính sách nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, như đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá năng lực và cải thiện chế độ đãi ngộ.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận