Thứ Hai , 13/04/2026 , 20:27:00 GMT+7

Những rào cản “khó nhìn thấy” trong hành trình đến trường của học sinh yếu thế

Model?.data?.author?.Name
Huyền Đức

Biên tập viên

Thứ Tư, 08/04/2026, 15:52:39 GMT+7

Việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hòa nhập đang trở thành một định hướng quan trọng của ngành giáo dục Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn không ít học sinh, đặc biệt là nhóm yếu thế, chưa thực sự được tiếp cận và trải nghiệm môi trường học tập như vậy. Từ những mô hình đang được triển khai đến các kết quả nghiên cứu chuyên sâu, vấn đề đặt ra không chỉ là mở rộng cơ hội đến trường mà còn là bảo đảm chất lượng và sự công bằng trong môi trường giáo dục.

Khi quyền được học chưa đồng nghĩa với cơ hội học tập thực sự

Trong những năm gần đây, việc xây dựng mô hình trường học an toàn, thân thiện cho học sinh yếu thế đã được nhiều địa phương và tổ chức quan tâm triển khai. Những mô hình này hướng tới việc tạo ra môi trường học tập không bạo lực, tôn trọng sự khác biệt và hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện. Tuy nhiên, đằng sau những nỗ lực đó, một câu hỏi vẫn cần được đặt ra: vì sao vẫn còn một bộ phận học sinh chưa thực sự được thụ hưởng môi trường giáo dục như kỳ vọng?

Tạp chí giáo dục
Học sinh thuộc các nhóm yếu thế tham gia học tập trong môi trường lớp học hòa nhập. Việc bảo đảm cơ hội học tập bình đẳng và cảm giác an toàn cho mọi học sinh là mục tiêu quan trọng của giáo dục hiện nay (Ảnh: baochinhphu.vn)

Về mặt lí luận, quyền được học tập là một trong những quyền cơ bản của trẻ em đã được pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế khẳng định. Tuy nhiên, trong thực tiễn, không phải mọi trẻ em đều có cơ hội tiếp cận giáo dục một cách bình đẳng. Học sinh thuộc hộ nghèo và cận nghèo, học sinh dân tộc thiểu số, học sinh khuyết tật (được gọi chung là "nhóm yếu thế") vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản trong quá trình đến trường và hòa nhập. Đáng chú ý, số học sinh thuộc “nhóm yếu thế” đang ngày càng gia tăng trong các trường học ở Việt Nam (theo Báo điện tử VietnamPlus).

Một nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Hồng Thuận (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) chỉ ra, mặc dù đã có những tiến bộ đáng kể trong phổ cập giáo dục, vẫn tồn tại những trở ngại lớn trong việc tiếp cận giáo dục chất lượng và bền vững đối với nhóm học sinh này. Chẳng hạn, chỉ khoảng 66,5% trẻ khuyết tật trong độ tuổi 6-10 được đi học tiểu học, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn quốc. Bên cạnh đó, tỷ lệ bỏ học trong nhóm này vẫn còn cao, phản ánh những hạn chế trong khả năng duy trì việc học lâu dài.

Vấn đề không chỉ nằm ở việc bảo đảm quyền được đến trường, mà còn ở việc tạo dựng một môi trường học tập thực sự phù hợp, an toàn và thân thiện để học sinh có thể phát triển. Điều này đặt ra yêu cầu cần nhìn nhận lại một cách toàn diện các yếu tố đang cản trở quá trình hòa nhập giáo dục của nhóm học sinh yếu thế.

Những rào cản nhiều tầng đối với học sinh yếu thế

Cũng theo nghiên cứu của PGS.TS Nguyễn Hồng Thuận, có một hệ thống các yếu tố rào cản mang tính đa chiều, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận và hòa nhập giáo dục của học sinh yếu thế. Các rào cản này không tồn tại riêng lẻ mà thường đan xen, tác động lẫn nhau và tạo thành những “vòng xoáy bất lợi” đối với người học.

Trước hết, điều kiện kinh tế - xã hội là một trong những nguyên nhân quan trọng. Nhiều gia đình có hoàn cảnh khó khăn buộc con em phải tham gia lao động sớm hoặc không đủ khả năng chi trả các chi phí học tập cơ bản. Trong một số trường hợp, việc di cư tự do hoặc thiếu giấy tờ hành chính cũng trở thành rào cản khiến trẻ em không thể tiếp cận hệ thống giáo dục công lập. Điều này cho thấy, giáo dục không thể tách rời khỏi bối cảnh kinh tế - xã hội của gia đình và cộng đồng.

Bên cạnh đó, sự khác biệt về văn hóa và tâm lí cũng tạo ra những trở ngại đáng kể. Học sinh yếu thế thường có xu hướng tự ti, khó hòa đồng và đôi khi phải đối mặt với sự kì thị hoặc thiếu công bằng trong môi trường học đường. Việc thiếu chú trọng giáo dục giá trị văn hóa, kĩ năng tôn trọng sự khác biệt và năng lực giao tiếp trong môi trường đa văn hóa đã làm gia tăng khoảng cách giữa các nhóm học sinh.

Khó khăn về ngôn ngữ là một yếu tố đặc thù đối với học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật. Khi không được học bằng tiếng mẹ đẻ hoặc thiếu các phương tiện hỗ trợ giao tiếp phù hợp, học sinh dễ rơi vào trạng thái bị động, giảm khả năng tham gia vào các hoạt động học tập. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến kết quả học tập mà còn tác động đến sự tự tin và cơ hội phát triển của các em.

Ngoài ra, yếu tố địa lí cũng đóng vai trò quan trọng. Ở nhiều vùng sâu, vùng xa, điều kiện đi lại khó khăn, khoảng cách đến trường xa và thiếu phương tiện giao thông an toàn đã khiến việc đến trường trở thành một thách thức hàng ngày đối với học sinh, đặc biệt là học sinh khuyết tật.

Tạp chí giáo dục
Học sinh ở vùng sâu, vùng xa phải vượt qua nhiều khó khăn về địa lí và điều kiện sống để đến trường, cho thấy những rào cản thực tiễn trong tiếp cận giáo dục (Ảnh: Tuổi trẻ News)

Một điểm đáng chú ý khác là hạn chế trong tiếp cận các dịch vụ bảo trợ xã hội. Mặc dù đã có nhiều chính sách hỗ trợ, nhưng việc triển khai trên thực tế vẫn còn những khoảng trống, đặc biệt đối với các nhóm đối tượng chưa được xác nhận chính thức hoặc gặp khó khăn trong thủ tục hành chính. Điều này dẫn đến tình trạng nhiều học sinh không được hưởng các quyền lợi hỗ trợ cần thiết.

Môi trường học đường: khoảng cách giữa định hướng và thực tiễn

Trong những năm gần đây, ngành Giáo dục đã ban hành nhiều quy định nhằm xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện và không bạo lực. Tuy nhiên, thực tế việc triển khai các quy định này tại nhiều cơ sở giáo dục vẫn chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả.

Tạp chí giáo dục
Các mô hình trường học an toàn, thân thiện đang được triển khai nhằm tạo môi trường học tập tích cực, không bạo lực và tôn trọng sự khác biệt của học sinh (Ảnh minh họa)

Một số trường học chưa xây dựng được quy tắc ứng xử cụ thể, phù hợp với đặc điểm của học sinh. Các hoạt động giáo dục kĩ năng sống, giáo dục giá trị và phát triển năng lực giao tiếp đa văn hóa chưa được chú trọng đúng mức. Điều này khiến môi trường học đường chưa thực sự trở thành nơi hỗ trợ học sinh phát triển toàn diện.

Đáng chú ý, tình trạng bạo lực học đường vẫn còn tồn tại dưới nhiều hình thức, từ thể chất đến tinh thần. Kết quả khảo sát tại 20 trường phổ thông dân tộc nội trú và bán trú cho thấy học sinh vẫn có trải nghiệm về bạo lực trong và ngoài khuôn viên trường học. Điều này cho thấy, việc xây dựng môi trường an toàn không chỉ dừng lại ở các văn bản quy định mà cần được thực hiện bằng những hành động cụ thể và nhất quán.

Bên cạnh đó, cơ sở vật chất và học liệu phục vụ giáo dục hòa nhập còn nhiều hạn chế. Nhiều trường học chưa đáp ứng được yêu cầu tiếp cận đối với học sinh khuyết tật; thiếu các phương tiện hỗ trợ như chữ nổi, ngôn ngữ kí hiệu hay tài liệu song ngữ. Khoảng cách số trong bối cảnh dạy học trực tuyến cũng làm gia tăng bất bình đẳng giữa các nhóm học sinh.

Một yếu tố quan trọng khác là dịch vụ hỗ trợ sức khỏe tâm thần. Mặc dù đã có chủ trương phát triển tư vấn học đường, nhưng nhiều trường chưa có bộ phận chuyên trách, đội ngũ cán bộ còn thiếu chuyên môn và hoạt động chưa thực sự hiệu quả. Điều này khiến nhiều học sinh gặp khó khăn tâm lí không được hỗ trợ kịp thời.

Từ mô hình đến thực chất: hướng tiếp cận dựa trên quyền và sự tham gia

Trước hết, cần khẳng định nguyên tắc không loại trừ: mọi trẻ em đều có quyền được đến trường và được học tập trong môi trường phù hợp với nhu cầu của mình. Đây không chỉ là yêu cầu về chính sách mà còn là một cam kết về giá trị của hệ thống giáo dục. Việc xây dựng môi trường học đường an toàn, thân thiện cần được tiếp cận một cách toàn diện, bao gồm cả yếu tố vật chất và tâm lí. Nhà trường cần chú trọng giáo dục kĩ năng sống, phát triển năng lực giao tiếp và tôn trọng sự khác biệt; đồng thời tạo điều kiện để học sinh yếu thế tham gia đầy đủ vào các hoạt động học tập và trải nghiệm.

Bên cạnh đó, cần phát triển và hoàn thiện hệ thống tư vấn học đường và công tác xã hội trong trường học. Đây là những thiết chế quan trọng giúp phát hiện sớm và hỗ trợ kịp thời các vấn đề tâm lí, xã hội của học sinh. Việc nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên và cán bộ tư vấn cũng là yếu tố then chốt để bảo đảm hiệu quả của các hoạt động này.

Tạp chí giáo dục
Hoạt động tư vấn học đường đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ tâm lí và giúp học sinh, đặc biệt là nhóm yếu thế, thích ứng với môi trường học tập (Ảnh: Bộ GD-ĐT)

Ngoài ra, cần tăng cường sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng trong việc hỗ trợ học sinh yếu thế. Các chính sách bảo trợ xã hội cần được triển khai theo hướng đơn giản hóa thủ tục, mở rộng phạm vi thụ hưởng và bảo đảm tính công bằng trong tiếp cận.

Hướng tới một môi trường giáo dục không rào cản

Nhìn từ thực tiễn Việt Nam, việc xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện và hòa nhập không chỉ là một mục tiêu mang tính định hướng mà còn là một yêu cầu cấp thiết. Những mô hình đang được triển khai đã tạo ra những tín hiệu tích cực, nhưng để đạt được hiệu quả bền vững, cần có sự thay đổi đồng bộ từ nhận thức đến hành động.

Các rào cản đối với học sinh yếu thế không chỉ đến từ điều kiện cá nhân mà còn từ cấu trúc của hệ thống giáo dục và xã hội. Vì vậy, việc tháo gỡ các rào cản này cần được thực hiện một cách hệ thống, với sự tham gia của nhiều bên liên quan.

Một môi trường giáo dục thực sự hòa nhập không chỉ là nơi “có chỗ” cho mọi học sinh, mà là nơi mỗi học sinh đều được hỗ trợ để phát huy tiềm năng của mình. Khi đó, giáo dục không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt kiến thức mà còn trở thành nền tảng để xây dựng một xã hội công bằng, nhân văn và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

Báo điện tử VietnamPlus (2021). Xây dựng mô hình trường học an toàn, thân thiện cho học sinh yếu thế. https://www.vietnamplus.vn/xay-dung-mo-hinh-truong-hoc-an-toan-than-thien-cho-hoc-sinh-yeu-the-post745198.vnp

Nguyễn Hồng Thuận (2022). Tạo dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, hoà nhập: Yếu tố rào cản và phương hướng khắc phục. Tạp chí Khoa học Giáo dục Việt Nam, 18(S1), 58-64.

Quốc hội (2010). Luật Người khuyết tật. Luật số 51/2010/QH12, ban hành ngày 17/6/2010.

Quốc hội (2016). Luật Trẻ em. Luật số 102/2016/QH13, ban hành ngày 05/4/2016.

PV/BTV

Nguyễn Huyền Đức

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận