Mở rộng không gian để các trường nâng chất lượng
Giáo dục đại học Việt Nam đang đứng trước một giai đoạn chuyển đổi có tính hệ thống. Tại cuộc họp về Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục đại học giai đoạn 2026-2035, tầm nhìn đến năm 2045 ngày 06/8, Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Tiến Châu nhấn mạnh chiến lược phải được thiết kế như một “bản đồ phát triển” cho giáo dục đại học, xác định rõ đích đến, lộ trình và khả năng thích ứng linh hoạt. Mục tiêu không chỉ là có một số cơ sở giáo dục đại học đạt chất lượng cao mà phải nâng cao đồng bộ chất lượng của toàn hệ thống.
Đây là yêu cầu có ý nghĩa đặc biệt trong thời điểm hệ thống giáo dục đại học đang được định hướng tái cấu trúc mạnh mẽ. Theo Kế hoạch 06-KH/TW của Bộ Chính trị, các cơ sở giáo dục đại học công lập được yêu cầu sắp xếp, tổ chức lại theo hướng chuyển các trường đa ngành, đa lĩnh vực về Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc địa phương quản lý; sáp nhập, hợp nhất các cơ sở giáo dục trên cùng địa bàn, trừ những cơ sở thuộc lĩnh vực đặc thù. Mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối cơ sở giáo dục đại học công lập phải hoàn thành trước ngày 1/4/2027.
Thực tế, định hướng này cũng đã được đặt ra trong các chủ trương trước đó. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo yêu cầu sớm sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học; sáp nhập, giải thể các trường không đạt chuẩn, xóa bỏ cấp trung gian, nghiên cứu sáp nhập viện nghiên cứu với trường đại học và chuyển một số trường về địa phương quản lý.
Điểm quan trọng là quá trình sắp xếp phải tạo ra giá trị gia tăng thực chất. Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu đã nêu yêu cầu việc sáp nhập, chuyển giao hoặc giải thể phải chứng minh được giá trị gia tăng, đồng thời có phương án bảo đảm quyền lợi người học, xử lý đội ngũ, tài chính, đất đai và tài sản công. Các cơ sở cùng chuyên ngành, cùng thế mạnh cần được rà soát để tổ chức lại, liên kết hoặc sử dụng chung chương trình, phòng thí nghiệm, thư viện và hạ tầng số, từ đó hình thành các trung tâm đủ mạnh.
Luật Giáo dục đại học số 125/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 1/1/2026 đã tạo thêm một hành lang pháp lý quan trọng cho quá trình này. Luật quy định theo hướng tăng cường quyền tự chủ gắn với trách nhiệm giải trình, đồng thời đặt ra những yêu cầu cụ thể hơn về chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và quản trị đại học. Trong hoạt động đào tạo, Luật quy định chuẩn chương trình phải bảo đảm tính liên thông giữa các trình độ, ngành và liên ngành, tính cập nhật, gắn kết nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ; đồng thời cho phép tổ chức đào tạo linh hoạt, tạo điều kiện học tập suốt đời và phải được định kỳ rà soát, đánh giá để nâng cao chất lượng. Chương trình đào tạo cũng phải được cập nhật định kỳ, phù hợp với thực tiễn và nhu cầu nhân lực của thị trường lao động.
Như vậy, nâng cao chất lượng giáo dục đại học phải được phản ánh qua năng lực của người học sau tốt nghiệp, khả năng đáp ứng thị trường lao động, năng lực nghiên cứu, mức độ đóng góp cho địa phương và nền kinh tế, cũng như khả năng cạnh tranh quốc tế. Đặc biệt, Luật Giáo dục đại học mới dành một vị trí rõ nét hơn cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Hoạt động nghiên cứu được yêu cầu gắn với đào tạo, phát triển đội ngũ giảng viên, nhà khoa học và người học; đồng thời thúc đẩy hợp tác với doanh nghiệp, viện nghiên cứu, địa phương để chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Luật cũng xác định việc ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và công cụ phân tích dữ liệu trong nghiên cứu, phát triển công nghệ và quản trị đổi mới sáng tạo.
Điều này cho thấy chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn mới phải được hiểu rộng hơn chất lượng giảng dạy trên giảng đường. Một trường đại học mạnh phải đồng thời là nơi đào tạo nhân lực, tạo ra tri thức, phát triển công nghệ và tham gia giải quyết những bài toán thực tiễn của nền kinh tế - xã hội.
Từ các trường riêng lẻ đến hệ sinh thái đại học quốc gia
Một trong những định hướng đáng chú ý được Phó Thủ tướng Lê Tiến Châu nhấn mạnh là chuyển mạnh từ phát triển riêng lẻ từng cơ sở sang phát triển hệ sinh thái giáo dục đại học quốc gia. Trong hệ sinh thái đó, các trường đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp, địa phương, thị trường lao động và đối tác quốc tế phải được kết nối, chia sẻ nguồn lực và cùng tham gia đào tạo, nghiên cứu, đổi mới sáng tạo. Một phòng thí nghiệm hiện đại có thể phục vụ nhiều trường; một nhóm nghiên cứu mạnh có thể tham gia đào tạo ở nhiều chương trình; dữ liệu, thư viện số và hạ tầng công nghệ có thể được chia sẻ; doanh nghiệp tham gia sâu hơn vào thiết kế chương trình, nghiên cứu và tuyển dụng.
Một vấn đề khác cần được quan tâm là cách đánh giá chất lượng sau tái cấu trúc. Nếu vẫn sử dụng những tiêu chí nặng về quy mô, số lượng ngành đào tạo hoặc số sinh viên thì rất khó tạo ra động lực nâng chất lượng thực chất. Dự thảo Chiến lược phát triển giáo dục đại học đã đặt vấn đề xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp với sứ mạng của từng nhóm cơ sở. Theo chỉ đạo của Phó Thủ tướng, kết quả kiểm định cùng dữ liệu đầu ra cần được sử dụng làm căn cứ duy trì chương trình, phân nhóm cơ sở, giao nhiệm vụ và tiếp cận chính sách hỗ trợ. Bộ Giáo dục và Đào tạo được định hướng xây dựng cơ sở dữ liệu về nhu cầu nhân lực, việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp để định kỳ đánh giá chương trình đào tạo, từ đó mở rộng, cập nhật hoặc điều chỉnh ngành đào tạo cho phù hợp.
Nếu dữ liệu này được vận hành hiệu quả, việc mở ngành, duy trì ngành hay đầu tư nguồn lực sẽ dần chuyển từ quyết định dựa trên xu hướng tuyển sinh ngắn hạn sang dựa trên nhu cầu phát triển dài hạn của đất nước. Cùng với đó, chính sách hỗ trợ cần tạo ra sân chơi công khai, công bằng, khuyến khích các trường cạnh tranh bằng chất lượng, kết quả và đóng góp thực chất. Đây cũng là cách để tự chủ đại học đi vào chiều sâu: trường được trao quyền nhiều hơn nhưng đồng thời phải chứng minh được hiệu quả của quyền tự chủ bằng những kết quả cụ thể.
Dự thảo Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2045 giáo dục đại học Việt Nam đạt trình độ tiên tiến của khu vực châu Á, có một số đại học nghiên cứu tinh hoa đạt đẳng cấp thế giới và một số lĩnh vực khoa học công nghệ có năng lực cạnh tranh quốc tế.
Để đạt được mục tiêu này, Việt Nam cần những đại học đầu tàu đủ mạnh, bao gồm cả những trường nghiên cứu tinh hoa, trường đại học ứng dụng, trường đào tạo nhân lực cho các vùng kinh tế và những cơ sở có thế mạnh chuyên ngành. Trong quá trình này, trí tuệ nhân tạo phải trở thành động lực tái cấu trúc chương trình, phương thức đào tạo, nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá và quản trị đại học.
Như vậy, tái cấu trúc mạng lưới, hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng đang tạo thành ba trụ cột có quan hệ chặt chẽ, tạo không gian tự chủ để các trường phát huy năng lực; còn hệ thống kiểm định, dữ liệu và trách nhiệm giải trình giúp bảo đảm nguồn lực được sử dụng đúng mục tiêu. Chủ trương tinh gọn mạng lưới được kỳ vọng sẽ tạo dư địa để hình thành những trung tâm đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh cao.