Thứ Năm , 25/06/2026 , 23:12:10 GMT+7

Chuẩn cơ sở giáo dục đại học: Mở rộng tự chủ, siết chặt trách nhiệm giải trình

Model?.data?.author?.Name
Thảo Ly

Phóng viên

Thứ Tư, 24/06/2026, 10:55:14 GMT+7

Dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học do Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) xây dựng đang cho thấy bước chuyển quan trọng trong tư duy quản lý giáo dục đại học. Thay vì tập trung kiểm soát các điều kiện đầu vào và quy trình vận hành, dự thảo hướng tới giám sát chất lượng đầu ra, tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu và thúc đẩy chuyển đổi số, qua đó mở rộng quyền tự chủ đi đôi với nâng cao trách nhiệm giải trình của các cơ sở giáo dục đại học.

Từ kiểm soát điều kiện sang đánh giá chất lượng thực chất

Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) vừa công bố dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học để lấy ý kiến rộng rãi, thay thế Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT. Việc xây dựng Thông tư nhằm thực hiện các quy định của Luật Giáo dục đại học năm 2025, đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức quản lý nhà nước theo hướng tăng cường tự chủ, minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Tạp chí giáo dục
Chất lượng đầu ra trở thành thước đo quan trọng trong quản lý đại học. Ẩnh: Báo Quân đội nhân dân.

Điểm cốt lõi của dự thảo là chuyển từ mô hình quản lý dựa nhiều vào kiểm soát điều kiện bảo đảm chất lượng và quy trình thực hiện sang giám sát hiệu quả hoạt động, chất lượng đào tạo và kết quả đầu ra. Đây được xem là bước thay đổi đáng chú ý trong quản trị giáo dục đại học khi cơ quan quản lý tập trung đánh giá những giá trị mà cơ sở giáo dục tạo ra thay vì chỉ xem xét các điều kiện đầu vào.

Theo dự thảo, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học gồm 6 tiêu chuẩn lớn: tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, dự thảo lần đầu tiên bổ sung các chỉ số đặc thù đối với cơ sở giáo dục đại học đào tạo lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe.

Một điểm mới nổi bật khác là việc tăng cường quản trị dựa trên dữ liệu. Thay cho phương thức quản lý chủ yếu dựa vào báo cáo hành chính, dữ liệu về người học, đội ngũ giảng viên, điều kiện bảo đảm chất lượng và kết quả hoạt động sẽ được cập nhật, kết nối, đồng bộ trên Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS).

Các tiêu chuẩn, tiêu chí được thiết kế theo hướng định lượng cao hơn, thống nhất giữa chỉ số đánh giá và phương pháp xác định. Điều này giúp nâng cao khả năng kiểm chứng, đối sánh, tự động hóa dữ liệu và tạo nền tảng cho hoạt động hậu kiểm của cơ quan quản lý.

Dự thảo cũng quy định rõ cơ chế tự đánh giá hằng năm, công khai kết quả và trách nhiệm giải trình của cơ sở giáo dục đại học. Bộ GDĐT có thể thực hiện đối sánh dữ liệu, hậu kiểm hoặc yêu cầu cung cấp minh chứng khi cần thiết.

So với Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT, dự thảo mới cho thấy sự chuyển dịch rõ nét từ quản lý dựa trên điều kiện và quy trình sang quản lý dựa trên kết quả hoạt động. Nếu như trước đây việc đánh giá còn phụ thuộc nhiều vào báo cáo hành chính và các điều kiện bảo đảm chất lượng đầu vào, thì dự thảo lần này nhấn mạnh đến dữ liệu thực chứng, kết quả đầu ra và hiệu quả vận hành của cơ sở giáo dục đại học.

Thúc đẩy chuyển đổi số và đánh giá theo đặc thù lĩnh vực đào tạo

Tạp chí giáo dục
Đẩy mạnh xây dựng môi trường giáo dục số trong các cơ sở giáo dục đại học. Nguồn: Đại học Công nghiệp Hà Nội.

Bên cạnh yêu cầu về cơ sở vật chất truyền thống, dự thảo dành sự quan tâm đáng kể cho các yếu tố của môi trường giáo dục số. Các tiêu chí liên quan đến hệ thống học tập số, học liệu số, tài nguyên truy cập mở và mức độ khai thác của người học, giảng viên được bổ sung và làm rõ.

Việc đưa các yêu cầu về hạ tầng dữ liệu và hệ sinh thái học tập số vào chuẩn tối thiểu được kỳ vọng sẽ tạo động lực để các trường đại học tăng cường đầu tư công nghệ, mở rộng khả năng tiếp cận tri thức, phát triển mô hình học tập linh hoạt và đáp ứng yêu cầu học tập suốt đời trong bối cảnh chuyển đổi số.

Đáng chú ý, dự thảo lần đầu tiên thiết kế các chỉ số đánh giá riêng đối với cơ sở đào tạo lĩnh vực Pháp luật và lĩnh vực Sức khỏe. Đây là hai nhóm ngành có yêu cầu cao về chuẩn năng lực nghề nghiệp, trách nhiệm xã hội và chất lượng đầu ra. Việc xây dựng các chỉ số đặc thù giúp hoạt động đánh giá phản ánh sát hơn đặc điểm của từng lĩnh vực, thay vì áp dụng một bộ tiêu chí chung cho mọi loại hình đào tạo.

Dự thảo cũng hoàn thiện cơ chế áp dụng đối với đại học quốc gia, đại học vùng, cơ sở giáo dục đại học có trường thành viên, phân hiệu hoặc đào tạo đa lĩnh vực; đồng thời làm rõ nguyên tắc phân bổ nguồn lực dùng chung và chống tính trùng dữ liệu trong quá trình đánh giá.

Một nội dung quan trọng khác là thiết lập cơ chế rà soát, cập nhật Chuẩn cơ sở giáo dục đại học theo định kỳ. Cách tiếp cận này giúp hệ thống chuẩn luôn phù hợp với thực tiễn phát triển giáo dục đại học, đồng thời từng bước tiệm cận các chuẩn mực khu vực và quốc tế.

So với Thông tư số 01/2024/TT-BGDĐT, các yêu cầu về chuyển đổi số được thể hiện rõ hơn thông qua việc bổ sung các tiêu chí liên quan đến học liệu số, hệ thống học tập số và hạ tầng dữ liệu. Đặc biệt, việc bổ sung chỉ số đánh giá riêng cho các lĩnh vực Pháp luật và Sức khỏe là điểm mới chưa từng xuất hiện trong bộ chuẩn trước đây.

Những điều chỉnh này được kỳ vọng sẽ giúp kết quả đánh giá phản ánh chính xác hơn chất lượng thực chất của các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời tạo điều kiện để các trường phát huy quyền tự chủ trên cơ sở minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Dự thảo Thông tư ban hành Chuẩn cơ sở giáo dục đại học cho thấy xu hướng quản trị hiện đại đang được áp dụng ngày càng rõ nét trong giáo dục đại học Việt Nam. Khi cơ quan quản lý chuyển trọng tâm từ kiểm soát hành vi sang giám sát chất lượng đầu ra, các trường đại học sẽ có thêm không gian để chủ động đổi mới, sáng tạo và phát huy quyền tự chủ.

Tuy nhiên, tự chủ chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi đi kèm với trách nhiệm giải trình và hệ thống dữ liệu minh bạch. Việc xây dựng bộ chuẩn theo hướng định lượng, số hóa và gắn với kết quả hoạt động không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn góp phần hình thành văn hóa tự đánh giá, tự cải tiến trong các cơ sở giáo dục đại học. Đây cũng là nền tảng quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trình chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

PV/BTV

Nguyễn Lê Thảo Ly

Tạp chí giáo dục

Cùng chuyên mục

X
Xác nhận